vanban.org

Bản án 84/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn B. C và giữ nguyên hình phạt Bản án sơ thẩm số: 45/2021/HS-ST, ngày 02 tháng 07 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo Đoàn B. C 09 (chín) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn B.C Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn B. C và giữ nguyên hình phạt Bản án sơ thẩm số: 45/2021/HS-ST, ngày 02 tháng 07 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84 /2021/HS-PT
Ngày: 24 – 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Tuấn;

Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/2021/HSPT, ngày 07 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo Đoàn B. C do có kháng cáo của bị cáo Đoàn B. C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2021/HS-ST, ngày 02 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Đoàn B. C, sinh năm 1983, tại An Giang; Nơi cư trú: ấp B.T, xã B. P, huyện C. P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn V.T và bà Hà T. T. N; có vợ Nguyễn T. H. Y và 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại – có mặt.

Đối với những người tham gia tố tụng khác, cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/02/2021, bị cáo Đoàn B. C mượn xe ô tô tải biển số 67H – 00368 của ông Nguyễn V. T đi từ tỉnh An Giang đến huyện M, tỉnh Bến Tre để chở vịt về bán, đi cùng trên xe có chị Nguyễn T. H. Y (vợ của bị cáo) và anh Phạm V. D (người bốc hàng).

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo C điều khiển xe lưu thông trên Quốc lộ 53 hướng từ cầu Vòng đến cầu Ông Me lớn, khi đến vòng xuyến ngã tư giữa đường Quốc lộ 53 – Quốc lộ 57 và đường Phạm T. B thuộc khóm 6, Phường 4, thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo điều khiển xe ở làn đường bên trái (gần dãy phân cách giữa đường) và bật đèn tín hiệu xin đường bên phải để đi về hướng cầu Ông Me lớn, do bị cáo chỉ quan sát phía đầu xe và trong vòng xuyến nên không nhìn thấy xe mô tô biển số 64K4 – 4852 do bà Võ T. Đ điều khiển chở phía sau là bà Trần T. Á. H đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe ô tô tải biển số 67H – 003.68 và đang chuyển hướng dần từ phải qua trái đường nên phần đầu xe ô tô va chạm với gương chiếu hậu và tay cầm lái bên trái của xe mô tô biển số 64K4 – 4852 dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm bà H và bà Đ té ngã xuống đường, do thương tích quá nặng nên bà H đã tử vong.

- Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 85/KLGĐ - PC09, ngày 19/02/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Vĩnh Long kết luận: Nguyên nhân bà Trần T. Á.H tử vong là do gãy xương đốt sống cổ gây đứt dây chằng và đứt tủy cổ 2,3 (C2, C3), kết hợp chấn thương sọ não.

Sau khi tiếp nhận sự việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Vĩnh Long đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:

- Hiện trường tai nạn là giao lộ (ngã tư) có vòng xuyến, phần đường nơi xảy ra tai nạn rộng 15,3 mét. Chọn trụ điện số 53 làm điểm mốc, lấy lề đường bên phải hướng cầu Vòng đi cầu Ông Me lớn làm lề chuẩn.

- Vị trí số 01 là xe mô tô biển số 64K4 - 4852 ngã, bên trái xe tiếp xúc mặt đường, trục bánh trước xe đo đến lề chuẩn là 7,3 mét; đo đến điểm mốc là 14,75 mét. Trục bánh sau đo đến lề chuẩn là 8,10 mét; đo đến vòng xuyến là 9,25 mét;

- Vị trí số 02 là xe ô tô tải biển số 67H – 003.68 đang đỗ, đầu xe hướng cầu Ông Me lớn. Khoảng cách từ trục bánh trước bên phải đo đến lề chuẩn là 8,9 mét; trục bánh xe sau bên phải đo đến lề chuẩn là 8,8 mét, đo đến điểm mốc là 22,55 mét, đo đến trục bánh trước xe mô tô 64K4 – 4852 là 9,2 mét; khoảng cách từ trục bánh trước bên trái đo đến đầu dãy phân cách là 1,2 mét.

- Vị trí số 3 là vết cày của xe mô tô 64K4 – 4852, vết cày dài 3,05 mét, in hằng trên mặt đường, đứt quảng. Đầu vết cày đo đến lề chuẩn là 8,73 mét, cuối vết cày là đầu gác chân trước bên trái xe.

- Vị trí số 4 là vết bám sơn dài 0,95 mét, in hằng, màu trắng và đỏ, đầu vết hướng đường Phạm Thái Bường, từ đầu vết cày đo đến lề chuẩn là 09 mét; đo đến đầu vết cày xe mô tô 64K4 – 4852 là 1,55 mét, điểm cuối đo đến lề chuẩn là 8,40 mét.

- Vị trí số 5 là vết máu, có hình cung, kích thước (0,6 x 1,9) mét, đo đến lề chuẩn là 8,3 mét, đo đến trục bánh trước xe mô tô 64K4 – 4852 là 1,5 mét, đo đến trục sau bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 67H – 003.68 là 08 mét.

Vùng va chạm được xác định: Nằm trên mặt đường trong khu vực vòng xuyến ngã tư giữa đường Quốc lộ 53 – Quốc lộ 57 – đường Phạm Thái Bường. Tâm vùng va chạm đo đến lề chuẩn là 9,6 mét; đo đến điểm mốc là 13,50 mét; đo đến vòng xuyến là 5,40 mét; đo đến đầu vết cày xe mô tô 64K4 – 4852 là 3,20 mét; đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô 64K4 – 4852 là 5,85 mét, đo đến tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô 67H – 003.68 là 15,40 mét.

Lỗi vi phạm và nguyên nhân vụ tai nạn được xác định do Đoàn B C điều khiển xe ô tô biển số 67H – 003.68 không chú ý quan sát, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, đây là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn. Bà Võ T. Đ cũng có lỗi do điều khiển xe mô tô 64K4 – 4852 không có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, đây là lỗi hành chính không phải nguyên nhân dẫn đến tai nạn.

Đối với bà Võ T. Đ sau khi xảy ra tai nạn bà Được chỉ bị thương nhẹ nên từ chối giám định thương tích và cũng không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2021/HS- ST, ngày 02 tháng 07 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đoàn B. C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn B. C 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý về bồi thường thiệt hại, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/7/2021, bị cáo Đoàn B. C có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo trình bày như sau:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ và được hưởng án treo, các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ. Tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào mới; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo giữ y án sơ thẩm, buộc bị cáo nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo trình bày: bị cáo điều khiển xe tải từ An Giang đến Bến Tre chở vịt, khi xe đến đoạn vòng xuyến ngã tư tiếp giáp giữa quốc lộ 53, quốc lộ 57 và đường Phạm Thái Bường do chỉ quan sát bên trái của xe nên xe bị cáo điều khiển bánh xe bên phải phía trước va chạm vào bên trái của xe môtô do bà Được điều khiển. Bị cáo xác định lỗi do bị cáo thiếu quan sát, nên cấp sơ thẩm xử là không oan, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ và được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn B. C khai nhận:

Ngày 17/02/2021, bị cáo Đoàn B. C điều khiển xe ô tô tải biển số 67H – 003.68 lưu thông trên Quốc lộ 53 hướng từ cầu Vòng đến cầu Ông Me lớn, khi đến vòng xuyến ngã tư giữa đường Quốc lộ 53 – Quốc lộ 57 và đường Phạm Thái Bường thì va chạm xe mô tô biển số 64K4 – 4852 do bà Võ T. Đ điều khiển chở phía sau là bà Trần T. Á. H đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe của bị cáo. Hậu quả: làm bà H và bà Đ té ngã xuống đường, do thương tích quá nặng nên bà H đã tử vong. Do đó, việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Đoàn B. C, phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi bị cáo điều khiển xe ôtô tải đến vòng xuyến ngã tư thì xe do bà Được điều khiển vào vòng xuyến trước nên được ưu tiên, bị cáo vượt xe của bà Đ trong trường hợp không đảm bảo an toàn nên phần đầu xe bên phải xe của bị cáo đã va quẹt vào bên trái xe của bà Đ, làm xe bà Đ ngã dẫn đến bà H ngồi trên xe của bà Đ tử vong. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại không gì bù đắp được. Tình hình tai nạn giao thông hiện nay xảy ra càng ngày càng phức tạp có chiều hướng không giảm, do không chấp hành nghiêm luật giao thông, thể hiện ý thức xem thường pháp luật trong đó có bị cáo, cho nên cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo; đồng thời, còn răn đe những trường hợp tương tự có thể xảy ra, nhằm góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm xảy ra ở địa phương.

Khi quyết định hình phạt Tòa án sơ thẩm đã có xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện; sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại được 1 số tiền, khắc phục một phần hậu quả theo yêu cầu phía gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét mức hình phạt 09 (chín) tháng tù cấp sơ thẩm đã áp dụng là không nặng, tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do bị cáo thực hiện. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo là có cơ sở.

Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn B. C và giữ nguyên hình phạt Bản án sơ thẩm số: 45/2021/HS-ST, ngày 02 tháng 07 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. L, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn B. C 09 (chín) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đoàn B. C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ