- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn P - Ngô Thị X"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn P. Anh Trần Văn P được ly hôn với chị Ngô Thị X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2021/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2021 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cái Diệu Trang và ông Hồ Sỹ Định.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2021/TLST-HNGĐ ngày 24/02/2021, về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/5/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ 4 thôn 1, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Anh P có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị Ngô Thị X, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 04/9/2020 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn P trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Ngô Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên mỗi người sống một nơi. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Anh P và chị X đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Nay anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Ngô Thị X.
Về con chung: Anh Trần Văn P trình bày vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, anh Trần Văn P đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy chứng minh nhân dân Trần Văn P; bản sao sổ hộ khẩu gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Ngày 06/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc nhận được đơn xin vắng mặt của chị Ngô Thị X. Chị Ngô Thị X trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị X thừa nhận vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm nên không thể chung sống với nhau được nên đồng ý ly hôn với anh Trần Văn P. Vợ chồng không có con chung, về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, nguyên đơn còn trình bày do tính chất công việc nên không thể nghỉ làm nên xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Tòa án, đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn nhiều lần vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa các đương sự có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 4 Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án là hợp lệ nhưng bị đơn là chị Ngô Thị X vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đơn xin vắng mặt của các đương sự để xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Ngô Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị X là hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa anh P và chị X, Hội đồng xét xử thấy rằng anh P, chị X đều thừa nhận trong quá trình sống chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên giữa hai người đã sống ly thân. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Không ai còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mặc dù mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không khắc phục được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh P yêu cầu được ly hôn, chị X có đơn đồng ý ly hôn với anh P. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn P. Anh Trần Văn P được ly hôn với chị Ngô Thị X.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Trần Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0001743 ngày 24/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Anh P đã nộp đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND huyện Phú Lộc; - Chi cục THADS huyện Phú Lộc; - Đương sự; - UBND xã Hương Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sang |