vanban.org

Bản án 84/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cấp cho chị Bùi Thị P và anh Nguyễn Văn T không còn giá trị kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2021. Về con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phương ly hôn Tú"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20 – 10 – 2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phúc

2. Bà Trương Ngọc Điệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2021/TL.ST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P

Địa chỉ: XMM, xã CH, huyện KB, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T

Địa chỉ: Ấp XMA, thị trấn RG, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Phương trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T qua thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới nhau, chị và anh Tú sống ở tỉnh Hòa Bình. Vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, chị thường bị anh T đánh đập, bạo hành đối với chị. Đến năm 2018, khi chị vắng nhà thì anh T đưa con về Hậu Giang, chị và anh T sống ly thân từ đó. Đến nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàn H (nam) sinh ngày 04/5/2015, từ khi ly thân đến nay cháu H sống với anh T. Sau khi ly hôn, chị P đồng ý giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Nguyễn văn T vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không ghi nhận được lời khai của anh T.

Tại phiên tòa: Chị P vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53, Điều 55, Điều 81, 82, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị P đối với anh Nguyễn Văn T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàn H, sinh ngày 04/5/2015 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Do anh T không đến Tòa án để thể hiện ý kiến về vấn đề cấp dưỡng, chị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng là có lợi cho cháu H nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Bùi Thị P và anh Nguyễn Văn T do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh T, nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Bùi Thị P vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Văn T vắng mặt không rõ lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Phương và anh Tú.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa chị Phương và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống giữa chị P và anh T phát sinh mâu thuẫn. Chị P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và anh T bất đồng quan điểm. Anh Tnhiều lần đánh đập chị, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến tòa án để trình bày ý kiến, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án, cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị P. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị P và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phương đối với anh T.

Về quyền nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị P cho rằng chị và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàn H (nam) sinh ngày 04/5/2015 và hiện nay cháu H đang do anh T nuôi dưỡng, chị P đồng ý để anh Tú tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Theo hồ sơ chị P giao nộp, có thể hiện giấy khai sinh của cháu Hy, có cha là Nguyễn Văn T, mẹ là Bùi Thị P, giới tính và độ tuổi phù hợp với lời chị P trình bày. Chị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng. Do anh T vắng mặt, không trình bày ý kiến về vấn đề con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng, việc chị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là có lợi cho cháu H nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị P, giao con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng. Chị P có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị P khai không có nên không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

Về án phí: Chị Bùi Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 271, Điều 273, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cấp cho chị Bùi Thị P và anh Nguyễn Văn T không còn giá trị kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2021.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàn H (nam) sinh ngày 04/5/2015 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Bùi Thị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Chị Bùi Thị P có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị P phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Phương đã nộp theo biên lai số 0008856 ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị P còn phải nộp thêm 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ