vanban.org

Bản án 84/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao T.

Buộc ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ thanh toán ông Cao T số tiền tính đến hết ngày 06/5/2021 là: 2.154.665.000đồng (Hai tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Trong đó: Tiền vốn: 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 154.665.000đồng. Kể từ ngày ông Cao T có đơn yêu cầu thi hành án, nế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trưởng - Khoa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao T.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/DS-ST
Ngày 06 – 05 – 2021
(V/việc tranh chấp
hợp đồng vay tài sản)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi.

Ông Võ Sĩ Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-DS, ngày 08 tháng 01 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2021/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cao T, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Số 8, Trần HĐ, khóm Y, phường T, Tp CM, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Cao T là anh Đặng H, sinh năm: 1980. Địa chỉ cư trú: Số 24, đường 3/2, khóm T, phường T, thành phố CM, tỉnh Cà Mau theo giấy ủy quyền ngày 30/12/2020 (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn K, sinh năm: 1976 (vắng mặt).

Bà Huỳnh Đ, sinh năm: 1984 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số 82, đường Trần HĐ, khóm U, phường T, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 30/12/2020 và quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 14/9/2020 ông Cao T với ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ thỏa thuận, ông T cho vợ chồng ông K, bà Đ vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, khi vay hai bên có làm biên nhận viết tay. Thời hạn trả lại tiền vốn là ngày 30/11/2020. Quá trình vay tiền ông K, bà Đ không thanh toán tiền lãi như đã thỏa thuận, đến thời hạn thanh toán tiền vốn thì ông K, bà Đ cũng không thanh toán. Mặc dù, ông T có đến gặp ông K, bà Đ nhiều lần nhưng ông K, bà Đ hứa thanh toán mà không thực hiện.

Nay ông Cao T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ phải thanh toán cho ông T số tiền vốn 2.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ (ngày 14/9/2020 đến ngày 30/11/2020) là 2.000.000.000đồng x 1% x 02 tháng 06 ngày = 50.666.000đồng. Từ ngày 30/11/2020 đến ngày 30/12/2020 là 2.000.000.000đồng x 1,66% x 01 tháng = 33.200.000đồng. Tổng tiền vốn và lãi là 2.083.866.000đồng và yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng cho đến ngày giải quyết xong vụ án, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Đặng H yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ phải thanh toán cho ông T số tiền vốn 2.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ (ngày 14/9/2020 đến ngày 06/5/2021 là 2.000.000.000đồng x 1% x 07 tháng 22 ngày = 154.665.000đồng. Tổng tiền vốn và lãi là 2.154.665.000đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Đối với ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần song ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của ông Cao T thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng vay tài sản; ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ là bị đơn, có nơi cư trú tại số 82, đường Trần HĐ, khóm U, phường T, thành phố CM, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhiều lần nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp của vụ án: Nguyên đơn xác định bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 2.000.000.000 đồng, khi vay tiền giữa nguyên, bị đơn có làm biên nhận tiền vào ngày 14/9/2020. Từ khi vay đến nay, bị đơn không thanh toán tiền vốn, tiền lãi theo thỏa thuận. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền vốn vay là 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 154.665.000đồng. Tổng tiền vốn và lãi là 2.154.665.000đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền vốn 2.000.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy: Việc thỏa thuận vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi vay tiền giữa các bên có làm biên nhận vay tiền ngày 14/9/2020, nguyên đơn xác định do bị đơn ông Nguyễn K viết và ký tên, vợ ông Khoa bà Huỳnh Đ cũng ký tên vào biên nhận, bị đơn nhận trực tiếp các văn bản tố tụng từ Tòa án nhưng vẫn không gửi ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn. Bị đơn cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp. Từ những lý do trên xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán 2.000.000.000 đồng tiền vốn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận là 1%/tháng tính từ ngày 14/9/2020 đến hết ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là ngày 06/5/2021 theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là phù hợp có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên xét yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên cần buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 2.154.665.000đồng (Hai tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông K, bà Đ phải chịu theo quy định. Ông T không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại toàn bộ cho ông T.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào các Điều 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao T.

Buộc ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ thanh toán ông Cao T số tiền tính đến hết ngày 06/5/2021 là: 2.154.665.000đồng (Hai tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Trong đó: Tiền vốn: 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 154.665.000đồng.

Kể từ ngày ông Cao T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn K, bà Huỳnh Đ phải chịu số tiền 75.093.000đồng (Bảy mươi lăm triệu, không trăm chín mươi ba nghìn đồng, chưa nộp).

Ông Cao T không phải chịu. Ngày 05/01/2021, ông Trường đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 36.839.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn đồng) theo biên lai số 0000450 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ