vanban.org

Bản án 84/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t bị cáo Búi Hữu V 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 05/02/2020.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số 272/20/Q8, bên ngoài có chữ ký ghi tên Búi Hữu V và hình dấu Công an Phường 7, Qu n 8, các chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Thanh Đ, cán bộ điều tra Nguyễn Huy L. (Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 78/PNK ngày 14/4/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Búi Hữu V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t bị cáo Búi Hữu V 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 05/02/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2020/HS-ST
Ngày 22 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Huê

Bà Đặng Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 78/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 98/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Búi Hữu V; sinh năm 1987, t i Long An; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Tổ 15, ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An; chỗ : B9/36 Ấp 2, xã B, huyện C, Thành phố H Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ph và bà Nguyễn Thị L; có vợ và 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không có;

Tiền án: Ngày 15/5/2014, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố H Chí Minh xử ph t 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo kháng cáo, sau đó rút đơn kháng cáo nên ngày 07/8/2014, Tòa án nhân dân Thành phố H Chí Minh ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Chấp hành xong hình ph t tù ngày 11/12/2014 nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

- Ngày 06/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố H Chí Minh xử ph t 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 23/6/2013.

- Ngày 14/8/2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H Chí Minh ra Quyết định phân bổ học viên vào Trung tâm cai nghiện ma túy Bình Đức, thời h n 24 tháng do sử d ng trái phép chất ma túy. Đến tháng 6/2011 được tr về địa phương và bị áp d ng biện pháp quản lý sau cai nghiện t i nơi cư trú.

-. Ngày 22/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố H Chí Minh ra Quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc, thời h n 24 tháng. Chấp hành xong ngày 07/12/2017.

Bị bắt, t m giữ, t m giam từ ngày 05/02/2020 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 15 phút, ngày 05/02/2020, t i trước số 09 đường 105C T, Phường 7, Qu n 8, Thành phố H Chí Minh, Tổ tuần tra Công an Phường 7, Qu n 8 nghi vấn Búi Hữu V có liên quan đến ma túy nên kiểm tra thì phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của V 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (V khai là ma túy tổng hợp để sử d ng). Công an thu giữ ma túy và đưa V về tr s l p biên bản bắt người ph m tội quả tang. Sau đó, l p h sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 điều tra làm rõ.

T i Kết lu n giám định số 272/KLGĐ-H ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an Thành phố H Chí Minh kết lu n: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Búi Hữu V và hình dấu Công an Phường 7, Qu n 8 là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,2220g (không phẩy hai hai hai không gam), lo i Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Búi Hữu V khai nh n: Do cần ma túy để sử d ng, khoảng 07 giờ ngày 05/02/2020, V đến khu vực chợ B, Phường 7, Qu n 8 gặp một người thanh niên tên Đ (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy tổng hợp giá 200.000 đ ng. Mua được ma túy, V cất gói ma túy trong túi quần phía trước bên phải của mình. Khoảng 09 giờ 15 phút, cùng ngày 05/02/2020, V đi tới trước số 09 đường 105C T, Phường 7, Qu n 8 thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

T i bản Cáo tr ng số 85/CT-VKS ngày 24/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo Búi Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa,

Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Búi Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi ph m tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử ph t bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù; không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. Về v t chứng thu giữ, đề nghị áp d ng Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ lu t tố t ng hình sự, tuyên xử lý theo quy định pháp lu t.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ v án, xác định vào lúc 09 giờ 15 phút, ngày 05/02/2020, t i trước số 09 đường 105C T, Phường 7, Qu n 8, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Búi Hữu V có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 0,2220 gam, lo i Methamphetamine, m c đích sử d ng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Búi Hữu V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o, giáo d c bị cáo tr thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Năm 2014, bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần ph m tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”, theo quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo còn nhiều lần bị áp d ng biện pháp cai nghiện bắt buộc do sử d ng trái phép chất ma túy. Do đó, khi lượng hình, Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình ph t phù hợp với nhân thân của bị cáo.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nh p không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm m c đích thu lợi nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng v án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 272/20/Q8, xét đây là v t cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối với người thanh niên tên Đông bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố t ng nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Búi Hữu V 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 05/02/2020.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số 272/20/Q8, bên ngoài có chữ ký ghi tên Búi Hữu V và hình dấu Công an Phường 7, Qu n 8, các chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Thanh Đ, cán bộ điều tra Nguyễn Huy L.

(Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 78/PNK ngày 14/4/2020).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Búi Hữu V nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ