vanban.org

Bản án 84/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ vào các điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Hương - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ vào các điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 84/2020/HS - ST
Ngày 28 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Cương.

2. Ông Trần Thành Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2020/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H, sinh năm 1989; Trú tại: Bản P, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; C2 vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn T và bà Lò Thị L; Có vợ là Lò Thị N1 và 01 con (sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2020 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Văn C, sinh năm 1997. Trú tại bản P, Q, S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút, ngày 02/4/2020 tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã N, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã N phát hiện Lò Văn C (trú tại bản P, Q, S) có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vết rách cao su ở chân dẫm bên phải chiếc xe mô tô BKS 26C1- 119.73 do C điều khiển có cài 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 02 gói nilon màu hồng, gói thứ nhất chứa 01 mảnh viên nén màu hồng, gói thứ hai chứa chất bột màu trắng ngà (C khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26C1- 119.73; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng của Lò Văn C.

Ngay sau khi bị bắt C đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do C mua của Lò Văn H (sinh năm 1989, trú tại bản P, N, S) vào ngày 02/4/2020.

Ngày 05/4/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã ra lệnh khám xét khẩn cấp và giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn H, kết quả: thu giữ tại nhà của H 01 tẩu tự chế bằng nhựa để sử dụng ma túy, 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ túi nilon màu xanh, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ hiệu H-Viet và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S.

Ngày 03/4/2020 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu giám định, kết quả: Cân tịnh 01 mảnh viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng thu giữ của C có khối lượng là 0,05 gam, đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu H; Cân tịnh số chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thu giữ của C có khối lượng 0,03gam, đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.

Tại bản kết luận giám định số 573 ngày 06/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; Loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05gam; Loại Methamphetamine và 0,03gam; Loại Heroine”.

Quá trình điều tra bị cáo H khai nhận: Vào buổi sáng ngày 30/3/2020, khi H đi nương của H thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, khoảng 50 tuổi đang đi bộ qua đường. H hỏi mua được của người đàn ông này 03 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine với giá 200.000VNĐ, sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30’ ngày 01/4/2020, H đang ở nhà có Lò Văn C và Quàng Văn C2 cùng đến nhà H để hỏi mua ma túy, H đồng ý và bẻ một mảnh viên Hồng phiến, trích một ít Heroine ra bán cho C và C2 với giá 40.000VNĐ. Sau đó C, C2 và H cùng nhau sử dụng hết số ma túy vừa mua được của H bằng hình thức đốt, hít qua đường hô hấp tại nhà của H.

Khoảng 21 giờ, ngày 02/4/2020, C2 gọi điện cho H hỏi mua ma tuý bằng số điện thoại của C, H đồng ý. Sau đó, C và C2 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26C1- 119.73 đến nhà H để trao đổi mua bán ma túy, đến nơi C và C2 thấy H đang sử dụng Hồng phiến bằng hình thức đốt, hít qua đường hô hấp nên C và C2 đi vào sử dụng cùng H. Sau khi sử dụng xong, H nói với C và C2 muốn sử dụng ma túy tiếp thì phải mua ma túy của H để sử dụng, H sẽ bán cho. C và C2 đồng ý và mỗi người đưa cho H số tiền 50.000VNĐ, H nhận tiền rồi lấy 01 mảnh viên Hồng phiến và trích một ít Heroine để vào trong mảnh giấy bạc; Sau đó C, C2 và H cùng nhau sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức đốt, hít qua đường hô hấp. Sau khi sử dụng xong, C2 ra bàn uống nước ngồi xem điện thoại, C tiếp tục hỏi mua của H 01 mảnh viên Hồng phiến và 01 gói Heroine với giá 100.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, C đi ra ngoài chỗ dựng xe mô tô rồi cất giấu gói ma túy vào trong miếng cao su để chân bên phải của xe mô tô rồi gọi C2 đi về. Khi C điều khiển xe mô tô chở C2 đi về đến khu vực bản P, N, Sông Mã thì bị tổ công tác Công an huyện S phối hợp Công an xã N làm nhiệm vụ, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên, đến ngày 05/4/2020 thì H bị bắt.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKSSM ngày 16 tháng 7 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo các điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Lò Văn H từ 08 - 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị sử dụng có liên quan đến việc phạm tội, tịch thu sung công 02 thoại di động. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và truy thu sung công số tiền 240.000VNĐ hưởng lợi do bán ma tuý mà có, tuyên quyền kháng cáo.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 22 giờ 30 phút, ngày 02/4/2020 đối với Lò Văn C vì có hành cất giấu trái phép một gói chất bột màu trắng và một mảnh viên nén màu hồng, C khai nhận là Heroine và hồng phiến.

- Vật chứng bị thu giữ là gói nilon có chứa chất bột màu trắng và mảnh viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 573 ngày 06/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận chất bột màu trắng và mảnh viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn C là ma túy “..Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05gam và Loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05gam, loại Methamphetamine và 0,03gam, loại Heroine”.

- Lời khai của các đối tượng Lò Văn C, Quàng Văn C2 về ngày 01/4/2020 C và C2 cùng nhau đến nhà H để hỏi mua ma túy và được H bán cho 01 mảnh viên Hồng phiến và một ít Heroine với giá 40.000VNĐ; Ngày 02/4/2020 C và C2 tiếp tục đến nhà H để hỏi mua ma tuý và đã cùng H sử dụng ma tuý ngay tại nhà H, sau đó cả hai tiếp tục mua một ít Heroine và một mảnh viên hồng phiến với giá 100.000đ và cả ba lại cùng nhau tiếp tục sử dụng hết số ma tuý vừa mua được. Lời khai của Lò Văn C về việc ngay sau khi sử dụng xong ma tuý, một mình C hỏi và mua được một ít Heroine và một mảnh viên hồng phiến của H với giá 100.000VNĐ để sử dụng, sau khi mua được trên đường trở về thì bị bắt quả tang cùng số ma tuý đã mua của H.

- Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn H về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đối tượng C và C2. Ngoài ra, còn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong ngày 01/4/2020 và 02/4/2020 bị cáo Lò Văn H có hành vi bán ma tuý là Heroine và Methamphetamine cho đối tượng Lò Văn C ba lần, Quàng Văn C2 hai lần, được hưởng lợi là 240.000VNĐ.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, với hai tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b “Phạm tội 02 lần trở lên” và điểm c “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo nhận thức được việc Mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, bị cáo vi phạm hai tình tiết định khung hình phạt, cho thấy mức độ nghiêm trọng của hành vi, ý thức coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa pH, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa C, thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung và truy thu để sung công: Cơ quan điều tra đã làm rõ bị cáo là người nghiện ma tuý nên không có tài sản gì có giá trị vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do bị cáo bán ma tuý đã được hưởng lợi bất chính nên cần truy thu sung công số tiền được hưởng lợi.

Về vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông dân tộc mông bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể, tình cờ gặp ngoài đường nên CQCSĐT không có căn cứ để điều tra làm rõ là đúng.

Đối với Lò Văn C là người đã 03 lần mua ma túy của H và Quàng Văn C2 là người đã 02 lần mua ma túy của H vào các ngày 01/4/2020 và 02/4/2020. Sau khi mua được ma túy, 02 lần C đã cùng C2 và H sử dụng hết số ma túy mua được, còn lại 01 mảnh viên Hồng phiến có khối lượng 0,05 gam và 0,03 gam Heroine C cất giấu mang về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do tổng khối lượng hai chất ma túy chưa đủ để truy cứu TNHS, kết quả xác minh C chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quàng Văn C2 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ chấp nhận.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26C1- 119.73 tạm giữ của Lò Văn C, xác định được là tài sản của bà Lò Thị K (mẹ đẻ của C). Khi C mang chiếc xe mô tô đi để mua ma túy, bà K không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo (là tài sản của Lò Văn C) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S (là tài sản của bị cáo H) được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công; Đối với 03 mảnh túi nilon màu hồng, 01 tẩu tự chế bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ túi nilon màu xanh, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ hiệu H-Viet và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là các tài sản có liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ vào các điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2020.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Truy thu để sung công quỹ Nhà nước số tiền 240.000VNĐ đối với bị cáo.

2- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 03 mảnh nilon màu hồng được đựng trong một phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong dán kín theo đúng quy định của pháp luật. Mặt sau phong bì phần giấy dán niêm phong có mã số 027530, trên giấy niêm phong được đóng 2 dấu đỏ của CQCSĐT công an huyện Sông Mã.

+ 01 chiếc bật lửa màu đỏ, nhãn hiệu H- VIET.

+ 01 vỏ túi nilon màu xanh.

+ 01 chiếc tẩu tự chế bằng nhựa.

+ 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy xém.

- Tịch thu sung công:

+ 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO, màu vàng nhạt của Lò Văn C.

+ 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 5S, vỏ màu xám đen của bị cáo Lò Văn H.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2020 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2020); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai đúng quy định.

Cỡ chữ