- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Phú H - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Phú H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2020/HS-ST. Ngày: 22 - 6 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ánh Sáng.
Ông Đỗ Văn Bê.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngọc Thị Ngoan – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên toà: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét
xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Ngô Phú H, sinh năm 1996, tại Hà Nam. Hộ khẩu thường trú: thôn T , xã TR, thành phố P , Hà Nam. Nơi cư trú (đăng ký tạm trú): Số nhà 175, đường T 18, ấp T , xã B , huyện H , Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Phú H và bà Ngô Thị C ; chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2020 chuyển tạm giam đến ngày 27/4/2020; ngày 28/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giam do gia đình bảo lĩnh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Bùi Thị B, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Ấp 1B, xã A, huyện L , tỉnh Đồng Nai.
2/ Anh Lương Văn P, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp Tân Phước, xã B, huyện L , tỉnh Đồng Nai.
3/ Chị Trần Thị Thanh NG, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Khu Phước Hải, thị trấn L , huyện L , tỉnh Đồng Nai.
4/ Anh Lý Nam Đ, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp 6, xã T , huyện L , tỉnh Đồng Nai.
5/ Anh Dương Tấn T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 2, xã T , huyện L , tỉnh Đồng Nai.
6/ Bà Lê Mỹ A, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Ấp 1C, xã A, huyện L , tỉnh Đồng Nai.
7/ Bà Từ Thị Kim NG, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp 1B, xã A, huyện L , tỉnh Đồng Nai.
8/ Bà Trần Ngọc N, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Ấp 1B, xã A, huyện L , tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Anh Ngô Doãn TH, sinh năm 1996.
Hộ khẩu thường trú: thôn Thượng, xã T , thành phố P , tỉnh Hà Nam.
Nơi cư trú: Ấp B , xã Ph , huyện N , tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, người làm chứng có mặt; tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Lúc 01 giờ 10 phút ngày 13/3/2020, tổ tuần tra Công an xã L đi đến khu vực ấp
3, xã L , huyện L , tỉnh Đồng Nai phát hiện Ngô Phú H điều khiển xe mô tô biển số 90B2-763.84 chở Ngô Doãn TH ngồi phía sau đang có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong người của H có 100 tờ rơi quảng cáo có nội dung cho vay trả góp, 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Samsung. Qua đó, công an xã Long An phối hợp công an xã Lộc An tiến hành kiểm tra nơi thuê ở của H và Thà ở ấp H , xã L , huyện L , tỉnh Đồng Nai phát hiện thu giữ thêm 200 tờ rơi quảng cáo cho vay trả góp và số tiền 38.300.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: H bắt đầu cho vay tiền trả góp từ năm 2019 đến
nay. Địa bàn cho vay của H là các xã thuộc địa phận huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. H lập tài khoản có tên “Ahieuhanam” trên ứng dụng trực tuyến Mecash (phần mềm quản lý cho vay, cầm đồ) để lưu trữ và quản lý việc cho vay tiền. Hình thức vay: người nào có nhu cầu vay tiền thì gọi điện thoại cho H qua số điện thoại in trên tờ rơi quảng cáo để thỏa thuận việc vay tiền. Người nào muốn vay tiền thì phải dẫn H đến xem nhà và photo chứng minh nhân dân đưa cho H. Vay trả góp trong vòng 25 ngày. H sẽ thu trước 15% số tiền (gồm 5% là tiền phí vay và 02 ngày góp đầu và cuối với số tiền góp mỗi ngày là 5%). Số tiền còn lại 85% của số tiền vay giao cho người vay và phải góp 23 ngày nữa. Lãi suất của mỗi lần vay là 30%/1 tháng tương đương 360%/1 năm. Khi người vay đồng ý vay tiền và giao tiền thì H bắt đầu tính lãi.
Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu thông qua tài khoản “Ahieuhanam” trên
ứng dụng trực tuyến Mecash thể hiện thông tin của 13 người đã vay tiền của H. Quá trình rà soát thông tin người vay trên địa bàn huyện Long Thành, Cơ quan điều tra đã làm việc được 08 người vay có trong danh sách của H. Cụ thể như sau:
1. Bùi Thị B: Từ ngày 05/8/2019 đến ngày 27/02/2020 đã vay tiền góp của H
tổng cộng là 11 lần gồm (09 lần vay 5.000.000 đồng trả góp 25 ngày, 02 lần vay 4.000.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền Ba đã vay của H là: 53.000.000 đồng. Ba đã trả xong 11 lần với
tổng số tiền 66.250.000 đồng. H thu được tổng số tiền lãi là 15.900.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 15.173.973 đồng.
2. Lương Văn P: Từ ngày 02/4/2019 đến ngày 07/10/2019 đã vay tiền góp của
H tổng cộng 11 lần (trong đó 02 lần vay 5.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 08 lần vay 10.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 01 lần vay 12.500.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền Phong đã vay của H là: 102.500.000 đồng. Phong đã góp trả xong
11 lần với tổng số tiền 125.000.000 đồng. H thu được tổng tiền lãi là: 27.000.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là 25.767.123 đồng.
3. Trần Thị Thanh NG: Từ ngày 18/02/2020 đến ngày 09/3/2020, NG đã vay
tiền của H tổng cộng 04 lần (trong đó 02 lần vay 5.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 01 lần vay 15.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 01 lần vay 20.000.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền NG đã vay của H là 45.000.000 đồng. NG đã góp trả xong 04 lần
với tổng số tiền 56.250.000 đồng. H thu được tổng tiền lãi là 13.500.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 12.883.562 đồng.
4. Lý Nam Đ: Từ ngày 28/5/2019 đến ngày 13/6/2019, Đế đã vay tiền góp của
H tổng cộng 03 lần (trong đó 01 lần vay 3.000.000 đồng trả góp 25 ngày, 02 lần vay 10.000.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền Đế đã vay của H là 23.000.000 đồng, đã góp trả xong cho H 03
lần tổng cộng số tiền 28.750.000. H thu được tổng tiền lãi là: 6.900.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 6.584.932 đồng.
5. Dương Tấn T: Từ ngày 16/5/2019 đến ngày 06/11/2019, Tài đã vay của H
tổng cộng 03 lần (02 lần vay 5.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 01 lần vay 10.000.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền Tài đã vay của H là 20.000.000 đồng. Tài đã góp trả xong cho H
tổng cộng số tiền 25.000.000 đồng. H thu được tổng tiền lãi là: 6.000.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 5.726.027 đồng.
6. Lê Mỹ A: Từ ngày 05/7/2019 đến ngày 29/7/2019, Anh đã vay của H tổng
cộng 03 lần (trong đó 02 lần vay 3.000.000 đồng trả góp 25 ngày; 01 lần vay 5.000.000 đồng trả góp 25 ngày).
Tổng số tiền Anh đã vay của H là 11.000.000 đồng. Anh đã góp trả xong cho
H tổng số tiền 13.750.000 đồng. H thu được tiền lãi là: 3.300.000đ (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 3.149.315 đồng.
7. Từ Thị Kim NG: Từ ngày 25/02/2020 đến ngày 09/3/2020, Nga đã vay của
H 02 lần với số tiền mỗi lần là 5.000.000 đồng. Nga đã góp trả xong cho H tổng số tiền 12.500.000 đồng. H thu được tổng tiền lãi là: 3.000.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 2.863.014 đồng.
8. Trần Ngọc N: Ngày 14/02/2020 Á vay của H với số tiền là: 5.000.000 đồng.
Á đã trả góp xong cho H tổng số tiền 6.250.000 đồng. H thu được tổng tiền lãi là: 1.500.000 đồng (tương đương 30%/1 tháng và 360%/1 năm). Tổng số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà H thu được là: 1.431.507 đồng.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện
thoại hiệu Nokia, 300 tờ rơi quảng cáo cho vay tiền góp, 01 xe mô tô biển số 90B2-768.84 và số tiền 38.300.000 đồng (trong đó 12.600.000 đồng là tiền H để cho vay, 25.700.000 là tiền tiêu xài cá nhân của H).
Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động
hiệu Nokia và số tiền 12.600.000 đồng là công cụ, tiền bị can sử dụng vào việc phạm tội. 300 tờ rơi quảng cáo cho vay tiền góp. Đối với số tiền 25.700.000 đồng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đảm bảo thi hành án. Riêng 01 xe mô tô biển số 90B2-768.84 không liên quan đến vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Ngô Phú
H đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số: 107/CT-VKSLT ngày 27/5/2020, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Ngô Phú H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa:
Tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người vay tiền của H và các tài liệu chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát là đúng pháp luật. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như tại cáo trạng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Phú H
phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” áp dụng khoản 1 Điều 201, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngô Phú H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Nokia và số tiền 12.600.000 đồng là công cụ, tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Đồng thời tuyên tịch thu tiêu hủy 300 tờ rơi quảng cáo cho vay tiền góp. Đối với số tiền 25.700.000 đồng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành đảm bảo thi hành án. Riêng 01 xe mô tô biển số 90B2-768.84 không liên quan đến vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiến hành xét xử. Xét những người này vắng mặt nhưng họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ các Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Phú H đã khai nhận hành vi phạm tội
của bị cáo, phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Ngô Phú H bắt đầu cho vay tiền trả góp từ năm 2019 đến nay. Địa bàn cho vay của H là các xã thuộc địa phận huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. H lập tài khoản có tên “Ahieuhanam” trên ứng dụng trực tuyến để lưu trữ và quản lý việc cho vay tiền. Hình thức vay là: người nào có nhu cầu vay tiền sẽ gọi điện thoại liên hệ với H qua số điện thoại in trên tờ rơi quảng cáo để thỏa thuận việc vay tiền. Người nào muốn vay tiền thì phải dẫn H đến xem nhà và photo chứng minh nhân dân đưa cho H. Khi vay, H đưa ra thỏa thuận góp trong vòng 25 ngày. H sẽ thu trước 15% số tiền (gồm 5% là tiền phí vay và 02 ngày góp đầu và cuối với số tiền góp mỗi ngày là 5%). Số tiền còn lại 85% của số tiền vay giao cho người vay còn phải góp 23 ngày nữa. Lãi suất của mỗi lần vay là 30%/tháng và 360%/1 năm. Quá trình điều tra, xác định H đã thu lợi bất chính từ việc cho vay nặng lãi là 73.579.453 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội
của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng là trái pháp luật nhưng vì lợi nhuận nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm
nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo H chưa có việc làm ổn định nên cho bị cáo được miễn khấu trừ
thu nhập.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cần tịch thu sung vào NG sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, 01 điện thoại di động hiệu Nokia và số tiền 12.600.000 đồng là công cụ, tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi cho vay lãi nặng là 73.579.453 đồng (Bảy mươi ba triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi ba đồng) để sung vào NG sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 25.700.000 đồng (hai mươi lăm triệu bảy trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 06834 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy 300 tờ rơi quảng cáo cho vay tiền góp. Riêng 01 xe mô tô biển số 90B2-768.84 H mượn của em ruột là Ngô Phú H1 , H1 không biết H dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại xe và giấy đăng ký xe cho chủ sở hữu hợp pháp là Ngô Phú H1.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã ra quyết định xử
phạt hành chính trong lĩnh vực quảng cáo đối với Ngô Doãn TH đã có hành vi phát tờ rơi quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có người nào có ý kiến hoặc kH nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật
nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Phú H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của của Bộ
luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Phú H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2020 đến hết ngày 27/4/2020 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám
sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Ngô Phú H cho Ủy ban nhân dân xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khoản khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung vào NG sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, 01 điện thoại di động hiệu Nokia theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2020 và số tiền 12.600.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 06834 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Tịch thu tiêu hủy 300 tờ rơi quảng cáo cho vay tiền góp theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2020. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi cho vay lãi nặng là 73.579.453 đồng (Bảy mươi ba triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi ba đồng) để sung vào NG sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 25.700.000 đồng (hai mươi lăm triệu bảy trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 06834 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Phú H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị B, anh Lương Văn P, chị Trần Thị Thanh NG, anh Lý Nam Đ, anh Dương Tấn T, bà Lê Mỹ A, bà Từ Thị Kim NG, bà Trần Ngọc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND H.Long Thành; - VKSND T. Đồng Nai; - Công an H.Long Thành; - Nhà tạm giữ CA H.Long Thành; - CCTHA H.Long Thành; - Sở tư pháp T.Đồng Nai. - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thanh Hoa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thị Thanh Hoa |