vanban.org

Bản án 84/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê Thiên Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2020/HS-ST
Ngày: 29.5.2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Lê Thiên Đ, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 140/11 Vũ Tùng, phường 2, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số tổ 4, ấp Hậu Lân, xã X, huyện Y, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân P (chết) và bà Nguyễn Thị Thu C; bị cáo chưa có vợ, con; Nhân thân: Ngày 11/9/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh do có hành vi sử dụng chất ma túy với thời gian 24 tháng; Ngày 24/5/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy với thời gian 24 tháng; Tiền án: ngày 29/9/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Tổ chức đánh bạc”, đã chấp hành xong thời gian thử thách, chưa đóng án phí hình sự, chưa xóa án tích, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 26/11/2019 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 0h ngày 26/11/2019, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn kết hợp với Công an xã Xuân Thới Đông phát hiện bắt quả tang Nguyễn Lê Thiên Đ cất giấu ma túy nhằm sử dụng cho bản thân. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Đ 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen vàng đã cũ. Quá trình điều tra Đ khai nhận: Bản thân nghiện ma túy hoại Heroin, Đ mua ma túy cất giữ để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Nguồn gốc ma túy mua ở khu vực An Sương, mua 02 gói Heroine giá 250.000 đồng của người bán dạo. Lời khai của Đ phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 2125/KLGĐ-H ngày 04/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói nylon đưa đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3967g loại Heroine.

Đối với người bán ma túy cho Đ không rõ lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Vật chứng: 01 gói niêm phong mang số vụ 2125; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen vàng.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Lê Thiên Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 83/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ từ 02 năm đến 03 năm tù. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 2125; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen vàng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ khai nhận: Bản thân nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,3967g loại Heroine để sử dụng thì bị công an bắt quả tang cùng với tang vật.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình Sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thừa biết ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao, đã bị nhà nước cấm mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào. Bản thân bị cáo để thỏa mãn cơn nghiện, nên bị cáo bất chấp mọi hậu quả lao vào con đường phạm tội, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về nhân thân bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu:

Ngày 11/9/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh do có hành vi sử dụng chất ma túy với thời gian 24 tháng.

Ngày 24/5/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy với thời gian 24 tháng.

Tiền án: Ngày 29/9/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Tổ chức đánh bạc” đã chấp hành xong thời gian thử thách, chưa đóng án phí hình sự, chưa xóa án tích.

Tiền sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 gói niêm phong mang số vụ 2125 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3967g loại Heroine, là vật cấm lưu hành, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen vàng đã cũ, bị cáo không dùng để liên lạc mua bán ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thiên Đ 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 26/11/2019.

2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 2125 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3967g loại Heroine.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu đen vàng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/QĐ-VKS-HS ngày 28/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).

3. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ