vanban.org

Bản án 84/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành P 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 13/02/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84a/2019/HS-ST
Ngày: 16-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Khắc Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Minh Huấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2019/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành P (Tên gọi khác: Nhí, Sắt), sinh ngày 10 tháng 9 năm 1993 tại Bình Thuận. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn DH, xã HK, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 7/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Huỳnh Thị T1; sinh năm 1958; Nghề nghiệp: nội trợ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn DH, xã HK, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/02/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 11/02/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Thành P dùng điện thoại di động của mình số 0944.559.541 gọi cho một người đàn ông tên H (không rõ nhân thân, không nhớ số điện thoại) để mua 4.000.000 đồng ma túy đá. Cả hai thống nhất sẽ gặp nhau tại đường Từ Văn Tư (gần bến xe Bắc – Phan Thiết) để tiến hành giao dịch. Một lúc sau, P đến điểm hẹn, đưa cho ông Hai 4.000.000 đồng, ông Hai giao cho P một gói nylon có khóa nhựa kéo một đầu bên trong có chứa ma túy đá. Mua xong P đem về nhà cất giữ.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/02/2019, P điều khiển xe mô tô biển số 86B4-370.48 đến phòng trọ của Nguyễn Minh V (tên gọi khác: Nhí, sinh năm 1990, trú tại kp1, phường PT, thành phố Phan Thiết) thuộc kp1, phường PT để cùng V sử dụng ma túy. Khi đi P có mang theo gói ma túy đá vừa mua được cất trong gói thuốc lá hiệu COTAB. Khi tới phòng trọ của Vũ thì P lấy vỏ bao thuốc lá hiệu COTAB có chứa ma túy mà P để trên vai trái dưới lớp áo thun mà P đang mặc trên người ra, để trên nền phòng. V cũng lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra để P đổ một ít ma túy đá vào trong nỏ để cả hai cùng sử dụng. Số ma túy còn lại P dùng cân tiểu ly phân ra thêm 01 gói ma túy đá nữa rồi cất cả 02 gói ma túy vào lại vỏ bao thuốc lá hiệu COTAB để ngay dưới nền nhà ngay chỗ P ngồi. Sau đó P và V cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Bình Thuận đến kiểm tra và bắt quả tang đối với Nguyễn Thành P về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ cùng các tang vật gồm:

- 02 gói nylon không màu, đều có nhíp kéo, một đầu bằng nhựa, có kích thước lần lượt là (6,5 x 04) cm và (3,5 x 04) cm, bên trong mỗi gói nylon có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong vỏ bao thuốc lá hiệu Cotab đặt trên nền nhà phía dưới chân mà P đang ngồi. P khai nhận chất tinh thể màu trắng đó là ma túy đá. (Ký hiệu M khi giám định)

- 01 điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, mặt trước và mặt sau có chữ Samsung, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng và hoạt động bình thường, bên trong chứa sim số: 0944.559.541 và 0896.545.434; số Imel 1: 359906050188890, số Imel 2: 359907050188898 (thu giữ của P)

- 01 cân tiểu ly có kích thước 06 x 03cm, mặt trước màu bạc, mặt sau màu đen. (thu giữ của P)

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình nhựa trong suốt, trên nắp bình (vỏ chai) có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 đoạn thủy tinh được uốn cong dạng hình phễu ở phần đầu. (thu giữ trên nền trong phòng của V, V khai nhận bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là của V)

- 01 xe mô tô màu đỏ đen, hiệu HONDA BLADE, biển số 86B4-370.48, số khung RLHJA3646GY007141, số máy JAS6E – 0415151 (thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thành T2).

Tại kết luận giám định số 136/KLGĐ-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận đã kết luận:

- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 9,9072 gam, là Methamphetamine.

Hoàn lại các mẫu vật gửi đến giám định:

- 02 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 8,4792 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 136, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Bình Thuận.

Hiện các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 136 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, mặt trước và mặt sau có chữ Samsung, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, điện thoại đã qua sử dụng và hoạt động bình thường, bên trong chứa sim số: 0944.559.541 và 0896.545.434; số Imel 1: 359906050188890, số Imel 2: 359907050188898; 01 cân tiểu ly có kích thước 06 x 03cm, mặt trước màu bạc, mặt sau màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình nhựa trong suốt, trên nắp bình (vỏ chai) có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 đoạn thủy tinh được uốn cong dạng hình phễu ở phần đầu, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP.Phan Thiết tiếp tục bảo quản, chờ chuyển đến kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự TP.Phan Thiết để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B4-370.48. Qua xác minh, chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thành T2. Vào ngày 13/02/2019, anh T2 cho P mượn P tiện này để sử dụng. Đây là tài sản không liên quan đến hoạt động phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP.Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Thành T2. Anh Nguyễn Thành T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác. (Bút lục số 95).

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. P khai mua ma túy về tàng trữ để sử dụng dần chứ không có mục đích bán cho người khác.

Tại Bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 05/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 136/KLGĐ-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm một bình nhựa trong suốt, trên nắp vỏ chai có gắn một đoạn ống hút nhựa và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong hình dạng phễu ở phần đầu; 01 cân tiểu ly có kích thước 06x 03cm, mặt trước màu bạc, mặt sau màu đen là vật chứng không sử dụng được. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước P tiện dùng vào việc phạm tội 01 chiếc điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, mặt trước và mặt sau có chữ Sam Sung, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, chứa sim số 0944559541 và sim số 0896545434; số Imel 1: 359906050188890, số Imel 2: 359907050188898.

Bị cáo thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội, đồng ý với lời luận tội của kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và hứa sẽ trở thành công dân tốt, tuân theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với kết quả giám định kỹ thuật Hình sự của Công an tỉnh Bình Thuận về vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận:

Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do Nguyễn Thành P thực hiện vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/02/2019, tại khu phố 01, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết. Nguyễn Thành P có hành vi tàng trữ trái phép 9,9072 gam Methamphetamine trong người, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Nguyễn Thành P tàng trữ 9,9072 gam Methamphetamine, thuộc trường hợp “có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo có khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi của mình đối với xã hội, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội mà Nhà nước đã nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đối với mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thế nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để học tập, cải tạo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo P đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B4-370.48 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thành T2. Vào ngày 13/02/2019, anh T2 cho P mượn P tiện này để sử dụng. Đây là tài sản không liên quan đến hoạt động phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP.Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Thành T2 là đúng pháp luật.

Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 136/KLGĐ-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm một bình nhựa trong suốt, trên nắp vỏ chai có gắn một đoạn ống hút nhựa và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong hình dạng phễu ở phần đầu là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 cân tiểu ly có kích thước 06x 03cm, mặt trước màu bạc, mặt sau màu đen là vật chứng không sử dụng được.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước P tiện dùng vào việc phạm tội 01 chiếc điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, mặt trước và mặt sau có chữ Sam Sung, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, chứa sim số 0944559541 và sim số 0896545434; số Imel 1: 359906050188890, số Imel 2: 359907050188898.

Đối với đối tượng bán ma túy cho P, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Minh V, là người có mặt cùng Nguyễn Thành P tại thời điểm bắt quả tang. Tuy nhiên, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do một mình P thực hiện, V không tiếp nhận ý chí nên không xử lý V với vai trò đồng phạm là đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành P 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 13/02/2019.

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 136/KLGĐ-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm một bình nhựa trong suốt, trên nắp vỏ chai có gắn một đoạn ống hút nhựa và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong hình dạng phễu ở phần đầu; 01 cân tiểu ly có kích thước 06x 03cm, mặt trước màu bạc, mặt sau màu đen.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một chiếc điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, mặt trước và mặt sau có chữ Sam Sung, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, chứa sim số 0944559541 và sim số 0896545434; số Imel 1: 359906050188890, số Imel 2: 359907050188898.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 120 ngày 06/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

* Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thành P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/7/2019).

Cỡ chữ