- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Đ - đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Phạm Minh Đ, Ngu n Long V, Dương Thanh G. Chấp nhận kháng cáo của b cáo Lê Phước G. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nh n dân th xã B về hình phạt đối với b cáo Lê Phước G v b cáo Lê Văn D:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HS-PT Ngày 22-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: B Ngu n Th Ng n – Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Bình Dương.
- Đại D Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngu n Th Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 68/2019/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với các b cáo Phạm Minh Đ, Dương Thành G, Ngu n Long V, Lê Phước G. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã B.
Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Minh Đ, sinh năm 1986 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp M, xã M, th xã N, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nh n; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phạm Minh B, sinh năm 1957, không xác đ nh được mẹ; có vợ là Huỳnh Th M, sinh năm 1991; có 01 người con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; b cáo tại ngoại; có mặt.
2. Dương Th nh G, sinh năm 1974 tại tỉnh V Long; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nh n; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Nguy n Th M1, sinh năm 1935; có vợ là Huỳnh Th S, sinh năm 1969; có 02 người con (sinh năm 1993 và năm 1995); tiền án, tiền sự: Không; b cáo tại ngoại; có mặt.
3. Nguy n Long V, sinh năm 1977 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: Ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Ấp A, xã P, th xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nh n; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguy n Văn T, sinh năm 1950 v bà Lê Th T2, sinh năm 1935; có vợ là Trần Th Đ, sinh năm 1979; tiền án; tiền sự: Không; b cáo tại ngoại; có mặt.
4. Lê Phước G, sinh năm 1986 tại tỉnh Hậu Giang; nơi thường trú: Ấp X, th trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: Ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nh n; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Phước T, sinh năm 1938 v b Nguy n Th Đ1 (đã chết); có vợ là Nguy n Th L, sinh năm 1984; có 02 người con (sinh năm 2008 và năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; b cáo tại ngoại; có mặt.
Họ và tên bị cáo không có kháng cáo:
Lê Văn D, sinh năm 1979 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp N, xã Đ, hu ện C, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (đã chết) v b Trần Th D1, sinh năm 1963; có vợ l Ngu n Th Kim C, sinh năm 1980; có 01 người con (sinh năm 2001); tiền án, tiền sự: Không; b bắt tạm giam từ ng 08/11/2018 đến nay; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 b cáo do không có kháng cáo, không b kháng ngh nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 09 giờ ngày 01/4/2018, Nguy n Long V, Dương Th nh G, Lê Phước G và Phạm Minh Đ ngồi nói chuyện với nhau tại vườn cao su phía trước quán cà phê của ông Bùi Văn C1 thuộc ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương thì gặp Phan Văn K mang theo 01 con gà nòi màu vàng. K nói V tìm ai có g tương đương với gà của K cáp kèo đá ăn tiền. V xem gà của K xong thì gọi điện thoại nói Nguy n Văn L1 mang con gà nòi màu vàng của L1 đến đá ăn tiền với gà của K. L1 đồng ý và ôm g đi cùng với Nguy n Văn R, Phạm Văn T4, Lê Văn D đến chỗ K và V đang đợi để đá g .
Nhóm của V và nhóm của L1 gặp nhau thì V đại D cho nhóm của K, còn D đại D cho nhóm của L1 thỏa thuận với nhau về việc cáp kèo cho gà của K đá với gà của L1, 01 trận với số tiền cược l 8.000.000 đồng. Gà của K nặng hơn g của L1 nên nếu gà của K thắng thì bên nhóm L1 chung 6.400.000 đồng. Sau khi nghe V và D thỏa thuận xong kèo đá giữa 02 con gà của K và L1 thì các đối tượng đánh bạc lập thành 02 nhóm: Nhóm của V gồm V, K, G và G, nhóm của L1 gồm L1, D, T4 và R. Riêng Đ không tham gia cược m đi mượn cân, cựa g v băng keo dùng để băng cựa gà và làm trọng t i. Bên n o thua thì đưa tiền cho Đ sau đó Đ giao tiền lại cho bên thắng. Đ thỏa thuận trực tiếp với 02 nhóm là cứ 1.000.000 đồng tiền cược thì Đ lấ 50.000 đồng tiền trọng tài.
Nhóm của D, L1, T4 và R thỏa thuận góp số tiền 8.000.000 đồng như sau: D và L1 đứng ra ch u, trong đó: D ch u 4.000.000 đồng, gồm D 1.000.000 đồng, phần còn lại của những người không rõ nhân thân, lai l ch. L1 ch u 4.000.000 đồng, gồm L1 1.000.000 đồng, T4 hùn 2.000.000 đồng (trong đó có 1.000.000 đồng của một người đ n ông không rõ lai l ch), Rồi 1.000.000 đồng.
Nhóm của V, K, G và G thỏa thuận góp số tiền 8.000.000 đồng như sau: K và V đứng ra ch u, K ch u 4.000.000 đồng, gồm có K góp 400.000 đồng, số tiền còn lại của những người khác không rõ lai l ch, V ch u 4.000.000 đồng, gồm V 750.000 đồng, G 750.000 đồng, G 200.000 đồng, số tiền còn lại của những người khác không rõ lai l ch.
Sau khi cáp kèo và thỏa thuận tiền cược xong thì Đ mang cân ra cho K và L1 kiểm tra trọng lượng gà. Đ làm trọng t i v đếm 1, 2, 3 để V và D cùng thả 02 con gà của K và L1 ra đá với nhau. Khi 02 con g đang đá, chưa có kết quả thắng thua thì Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an th xã B phối hợp với Công an xã A đến, tất cả bỏ chạy khỏi hiện trường. Vật chứng thu giữ bao gồm: 02 con g đá; 01 cân hiệu Nhơn Hòa loại 05 kg màu xanh; 02 cặp cựa gà; 18 cuộn băng keo, gồm 04 cuộn đã sử dụng và 14 cuộn chưa sử dụng.
Ngoài ra, trước đó v o lúc 08 giờ, Nguy n Long V còn làm trọng tài cho trận đá g thắng thua bằng tiền giữa 01 con gà nòi của N (không rõ lai l ch) và 01 con gà nòi của B1 (không rõ lai l ch). Số tiền cược l 4.000.000 đồng. Trận này Nguy n Văn L1 tham gia cáp kèo, Phạm Minh Đ l người chuẩn b băng keo, cựa và cân gà, Nguy n Long V làm trọng t i, Lê Phước G tham gia cược 500.000 đồng với 01 người không rõ lai l ch. Kết quả gà B1 thua nên B1 đưa số tiền 4.000.000 đồng cho V, rồi V đưa cho N 3.800.000 đồng, còn lại 200.000 đồng V đưa cho Đ 150.000 đồng tiền băng keo, cựa gà và cân, V giữ lại 50.000 đồng tiền làm trọng tài.
Quá trình điều tra các b cáo đã nộp lại số tiền như sau: Nguy n Long V nộp lại 800.000 đồng, gồm 750.000 đồng tiền đánh bạc v 50.000 đồng tiền thu lợi bất chính; Nguy n Văn K nộp lại 400.000 đồng; Lê Phước G nộp lại 750.000 đồng; Nguy n Văn L1 nộp lại 800.000 đồng; Phạm Văn T4 nộp lại 800.000 đồng; Nguy n Văn R nộp lại 800.000 đồng.
Đối với Lê Văn D, sau khi b phát hiện đã bỏ trốn, đến ngày 08/11/2018 b bắt theo lệnh truy nã.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nh n d n th xã B đã qu ết đ nh:
Tuyên bố các b cáo Nguy n Long V, Dương Th nh G, Lê Phước G, Phạm Minh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Nguy n Long V 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Xử phạt b cáo Phạm Minh Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Xử phạt b cáo Lê Phước G 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Dương Th nh G số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng nộp ng n sách Nh nước.
Ngo i ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt b cáo Lê Văn D 10 (mười) tháng tù, b cáo Ngu n Văn L1 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”; b cáo Phạm Văn T4 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, b cáo Ngu n Văn R 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, b cáo Phan Văn K 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo cùng về tội “Đánh bạc”; tu ên về biện pháp tư pháp, án phí và qu ền kháng cáo theo qu đ nh của pháp luật.
Ngày 15/3/2019, các b cáo Lê Phước G, Ngu n Long V, Phạm Minh Đ có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Ng 18/3/2019, b cáo Dương Thành G có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt tiền đối với b cáo.
Đại D Viện Kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật m Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các b cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Các b cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tu nhiên tại Tòa án cấp phúc thẩm các b cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự n o mới. Mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các b cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các b cáo, giữ ngu ên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các b cáo khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội và giữ ngu ên nội dung kháng cáo.
B cáo G nói lời sau cùng: B cáo còn 02 người con nhỏ, cha mẹ gi , mong Hội đồng xét xử xem xét để b cáo về lo cho cha mẹ già v con nhỏ.
B cáo G nói lời sau cùng: B cáo l m công nh n, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức phạt tiền đối với b cáo.
B cáo Đ nói lời sau cùng: B cáo nghèo khổ, mức hình phạt quá nặng, mong Hội đồng xét xử xem xét để b cáo về nuôi con.
B cáo V nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Đơn kháng cáo của các b cáo được thực hiện trong thời hạn luật đ nh nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải qu ết theo qu đ nh của pháp luật.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của b cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 01/4/2018, tại vườn cao su phía trước đối D với quán cà phê của ông Bùi Văn C1 thuộc ấp A, xã A, th xã B, tỉnh Bình Dương, các b cáo V, K, G, G, Đ, L1, R, T4, D và một số người không rõ lai l ch đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi đá g thắng thua bằng tiền. Tổng số tiền các b cáo tham gia đánh bạc l 14.400.000 đồng, trong đó Đ tham gia làm trọng tài, R sử dụng 800.000 đồng, T4 sử dụng 800.000 đồng, L1 sử dụng 800.000 đồng, D sử dụng 800.000 đồng, V sử dụng 750.000 đồng, G sử dụng 750.000 đồng, K sử dụng 400.000 đồng và G sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc. Số tiền còn lại là của những người khác không rõ lai l ch.
Ngo i ra, trước đó khoảng 08 giờ các b cáo V, Đ, L1 còn tham gia trận đá gà khác cùng với người tên B1 và N (không rõ lai l ch). Tổng số tiền đánh bạc là 8.000.000 đồng, trong đó L1 tham gia giúp sức nhận tiền thắng kèo và giao lại cho bên thắng là N. Đ thực hiện c n, băng keo v cựa gà, còn V làm trọng tài. Trận này V thu lợi số tiền 50.000 đồng, Đ thu lợi số tiền 150.000 đồng.
. H nh vi của các b cáo l ngu hiểm cho xã hội, trực tiếp x m phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tr an tại đ a phương. Về nhận thức, các b cáo nhận thức được h nh vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền l vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật v bất chấp hậu quả. Các b cáo có đầ đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự về h nh vi phạm tội của mình theo qu đ nh của pháp luật. H nh vi phạm tội của b cáo thực hiện với lỗi cố ý. Như vậ , Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các b cáo về tội “Đánh bạc” theo qu đ nh tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) l có căn cứ, đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của các b cáo, Hội đồng xét xử xét thấ : Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các b cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự n o mới. Đối với b cáo G, quá trình điều tra xác đ nh b cáo tham gia đánh bạc 02 lần, lần thứ nhất b cáo sử dụng số tiền 750.000 đồng để đánh bạc với các b cáo khác với tổng số tiền các b cáo đánh bạc l 16.000.000 đồng. Lần thứ hai b cáo G sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc với một người không rõ nh n th n lai l ch với tổng số tiền đánh bạc l 1.000.000 đồng. Như vậ , h nh vi đánh bạc lần thứ hai của b cáo G không đủ ếu tố cấu th nh tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh b cáo G phạm tội nhiều lần l không đúng qu đ nh của pháp luật.
Căn cứ v o tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của các b cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các b cáo, xét thấ : Mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các b cáo Đ, V l không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của các b cáo. Đồng thời, mức hình phạt tiền áp dụng đối với b cáo G l phù hợp. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt đối với các b cáo Đ, V, G. Đối với mức hình phạt áp dụng đối với b cáo G: Như đã ph n tích ở trên, b cáo G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo G là chưa phù hợp. Do đó, có cơ sở giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo G.
Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, b cáo D không kháng cáo. Tuy nhiên, xem xét tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo xét thấ : B cáo D chỉ tham gia đánh bạc 01 lần với số tiền 800.000 đồng, b cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, việc b cáo bỏ trốn chỉ l cơ sở để xem xét khi qu ết đ nh hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt b cáo 10 (mười) tháng tù, cao hơn các b cáo Đ, V, L1 trong khi các b cáo n phạm tội nhiều lần l chưa phù hợp, chưa ph n hóa vai trò đồng phạm của từng b cáo trong vụ án. Do đó, có cơ sở giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo D.
Về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án: Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ b cáo D có bác ruột l Liệt sĩ, b cáo có ho n cảnh gia đình khó khăn l không đúng qu đ nh của pháp luật.
Đề ngh của Viện Kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Đ, G, V là phù hợp. Đối với đề ngh không chấp nhận kháng cáo của b cáo G l chưa phù hợp.
. Các phần qu ết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên có hiệu lực pháp luật kể từ ng hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các b cáo Đ, V, G phải ch u. Kháng cáo của b cáo G được chấp nhận nên b cáo G không phải ch u.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 v Điều 356; điểm c khoản 1 v khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Phạm Minh Đ, Ngu n Long V, Dương Thanh G. Chấp nhận kháng cáo của b cáo Lê Phước G. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nh n dân th xã B về hình phạt đối với b cáo Lê Phước G v b cáo Lê Văn D:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Nguy n Long V 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Xử phạt b cáo Phạm Minh Đ 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Lê Phước G 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Lê Văn D 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2018.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Dương Th nh G số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Ngh qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án: Các b cáo Phạm Minh Đ, Ngu n Long V, Dương Thanh G mỗi b cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các qu ết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ng hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng tu ên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - Phòng PV 06 - CA tỉnh Bình Dương; 1 - TAND th xã B; 2 - VKSND th xã B; 1 - Chi cục THADS th xã B; 1 - CQCSĐT CA th xã B; 1 - B cáo; 5 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Tổ H nh chính Tư pháp; 2 - Lưu hồ sơ vụ án. 1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨMỬ PHÚC THẨM N TOÀ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Huy Toàn |