vanban.org

Bản án 84/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh N.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Phú X. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh N - Nguyễn Phú X"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22/7/2019
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Hạnh.

2. Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Yến Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 234/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019 và số 63/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh N, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: Số 111/2 Lê Thị Hồng G, khu phố sáu, phường sáu, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phú X, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 128/6 Lê Thị Hồng G, khu phố năm, phường sáu, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 25/3/2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh N trình bày: Chị và anh X tổ chức đám cưới vào năm 2007, sau đó có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường sáu, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/7/2008. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do anh X không quan tâm đến vợ con, anh X cờ bạc gây nợ, mọi chi phí trong gia đình anh X đều bỏ mặc cho chị gánh vác, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh X không thay đổi. Anh, chị đã ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay, không thể đoàn tụ được, hiện tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh X.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thanh X1, sinh ngày 23/7/2008 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 17/12/2016. Hiện các cháu đang sống chung với chị do chị nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Phú X đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh X vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Anh X vắng mặt không lý do trong tất cả các lần Tòa án triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn không tuân thủ quy định của pháp luật, vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh X là phù hợp quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Anh X không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị N và cũng không tham dự phiên tòa. Như vậy, anh X không có thiện chí đối với cuộc hôn nhân này, chứng tỏ tình cảm vợ chồng của hai anh chị không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh X là có cơ sở đề nghị chấp nhận; Về hai con chung là cháu X1 và V chị hiện nay đang sống với chị N, để ổn định cuộc sống sinh hoạt, học tập của các cháu, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N, anh X không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung: chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh Nguyễn Phú X đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh X.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Phú X có đăng ký kết hôn đã được Ủy ban nhân dân phường sáu, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/7/2008, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Tại phiên tòa chị N yêu cầu được ly hôn với anh X và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung của chị và anh X là cháu Nguyễn Thanh X1, sinh ngày 23/7/2008 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 17/12/2016, chị không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thanh N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh X kết hôn năm 2008, chị N trình bày trong cuộc sống vợ chồng anh chị chung sống không có hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm thường xuyên cải vã nhau do anh X cờ bạc, gây nợ, không quan tâm chăm sóc chị và các con, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng không thể khắc phục được, chị và anh X đã ly thân từ tháng 5/2017 cho đến nay. Xét thấy, trong thời gian ly thân chị N, anh X không có biện pháp nào đoàn tụ, hiện mỗi người sống một nơi. Anh X thì không cung cấp ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và vắng mặt không dự phiên tòa để trình bày ý kiến về việc chị N xin ly hôn, yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh X đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Nguyễn Thanh N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phú X là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thanh X1, sinh ngày 23/7/2008 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 17/12/2016. Chị N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con.

Xét, cháu Nguyễn Thanh X1, sinh ngày 23/7/2008 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 17/12/2016, chị N trình bày từ khi ly thân cho đến nay các con cùng sống chung với chị, chị chăm sóc nuôi dưỡng các cháu, nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, cháu X1 có nguyện vọng được sống với mẹ, anh X thì không có ý kiến của mình về việc nuôi con để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu X1 và cháu V cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu X1 và phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị N không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị N và phù hợp quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh Nguyễn Phú X có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét, Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh N.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Phú X.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao cháu Nguyễn Thanh X1, sinh ngày 23/7/2008 và Nguyễn Quang V, sinh ngày 17/12/2016 cho chị Nguyễn Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2 Anh Nguyễn Phú X không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thanh N không yêu cầu. Anh Nguyễn Phú X có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014052 ngày 05/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố MT, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị Nguyễn Thanh N nộp xong án phí.

4. Chị Nguyễn Thanh N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Phú X vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Cỡ chữ