- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Tạ Ngọc K với bị đơn anh Phạm Hoài M"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Ngọc K và anh Phạm Hoài M
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15 – 11 - 2019 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Trần Đại Thắng
2. Ông Nguyễn Văn Trương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vủ Thị Diểm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 260/2019/TLST-HNGĐ ngày 19/9/2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Chị Tạ Ngọc K, sinh năm: 1997 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Bị đơn: Anh Phạm Hoài M, sinh năm: 1993
(Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo ñôn xin ly hoân ngày 19/9/2019, các văn bản tố tụng và tại tòa, nguyên đơn chị Tạ Ngọc K trình bày:
Trang 1
Chị và anh Phạm Hoài M tổ chức đám cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Anh , chị sống chung với nhau đến giữa năm 2017 thì anh M bỏ nhà đi làm ăn với cha mẹ ruột anh M, không quan tâm đến vợ con.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/12/2017. Từ khi sinh ra đến nay do chị K nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn nên chị K yêu cầu xin ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Hoài M đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa nhưng đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán – Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành còn bị đơn chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh M vắng mặt mặc dù đã được Tòa án thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị K với anh M thấy rằng chị K và anh M tổ chức đám cưới và đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh chị có đầy đủ điều kiện kết hôn, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên xác định hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Anh, chị chung sống với nhau được thời gian ngắn thì anh mến đã bỏ nhà đi, không quan tâm đến vợ con. Xét thấy anh, chị đã ly thân với nhau một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Qua ý kiến của bà Nguyễn Thị T là bà ngoại của anh M
Trang 2 (trước đây anh M ở chung với bà T) cũng cho rằng anh M đi làm, bà có liên hệ nhưng anh không về, anh có ý kiến đồng ý ly hôn với chị K.
Từ những nêu trên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị K và anh M đã trầm trọng. Phía bị đơn anh M không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Nay anh, chị mỗi người ở mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai, nếu kéo dài thêm thời gian thì mối quan hệ hôn nhân cũng không thể nào hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.
Đối với yêu cầu xin được nuôi con của chị K thấy rằng từ khi sinh ra đến nay cháu Phạm Ngọc Khánh B do chị K nuôi dưỡng. Cháu B sinh ngày 26/12/2017 còn nhỏ nên rất cần có sự chăm sóc của người mẹ. Về pháp luật tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh M không có bất cứ ý kiến, yêu cầu được nuôi con. Do đó, cần giao cháu B cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh mến chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị K chưa yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh M không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Khai không có, không yêu cầu nên không đề cập xem xét.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Ngọc K và anh Phạm Hoài M
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Tạ Ngọc K được nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/12/2017 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh M chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh M không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Khai không có, không yêu cầu nên không xem xét.
Trang 3
4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Tạ Ngọc K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001252 ngày 19/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị K đã nộp đủ án phí.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân T. Hậu Giang - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục thi hành án huyện Châu Thành; - Cơ quan nơi thực hiện đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN (đã ký) LÊ THỊ THỌ Trang 4 |