- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Th-Tg"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thu Th.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2019/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phượng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư.
Ông Huỳnh Văn Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử công khai dân sự sơ thẩm thụ lý số 91/2019/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thu Th, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh L.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tg, sinh năm 1994 ( xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thu Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Tg được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quí Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, anh chị sống rất hòa thuận và hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2017 thì thường xuyên mâu thuẩn, lý do anh chị bất đồng quan điểm sống, anh Tg thường xuyên nhậu nhẹt, đá gà, cá độ đá banh, chị đã khuyên can nhưng anh Tg vẫn không từ bỏ, từ đó không khí gia đình luôn nặng nề, khó chịu. Nhận thấy cuộc sống không đem lại hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, tình cảm rạn nứt, cuộc sống chung không thể kéo dài và vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2017 đến nay nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tg.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Tg thống nhất theo lời trình bày của chị Th, nhưng anh cho rằng sự việc đó đã xảy ra từ lâu, nay anh đã thay đổi, hiện anh sống rất sung túc và đầy đủ bên gia đình nhưng không vui và thoải mái khi thiếu vắng người vợ yêu. Anh mong muốn và hy vọng vợ anh tha thứ, cho anh cơ hội làm người chồng thật tốt, anh yêu cầu cho anh thời gian để hàn gắn mối quan hệ này nên không đồng ý ly hôn.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thu Th có đơn khởi kiện để yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tg. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cai Lậy nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thu Th và anh Nguyễn Văn Tg đều có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Th và anh Tg theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thu Th và anh Nguyễn Văn Tg xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129/2015, quyển số 01/2015 ngày 18/11/2015 nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu chung sống, anh chị rất hòa thuận và hạnh phúc, đến cuối năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị Th khai do anh Tg không lo làm ăn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, đá gà và cá độ đá banh, chị cũng đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Tg không khắc phục, sửa chữa nên anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Anh Tg cũng thừa nhận và xin thời gian để sửa đổi, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Xét thấy, thời gian anh chị ly thân kéo dài đến nay cũng gần 2 năm nhưng không có biện pháp hàn gắn đoàn tụ, điều này chứng tỏ anh chị không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng, kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được . Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Th cương quyết xin ly hôn, còn anh Tg cũng đồng ý nên Hội Đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thu Th.
Về con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
[5] Án phí: Chị Võ Thu Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thu Th.
Cho chị Võ Thu Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tg.
Án phí: Chị Võ Thu Th phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 16449 ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, như vậy chị Th đã thi hành xong phần án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND Cai Lậy; - CCTHADS Cai lậy; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Quý Tây; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Phượng |