- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc S - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2018/HS-ST Ngày: 13-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thanh Thúy
2. Ông Quàng Văn Hặc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Ngần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 13 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Ngọc S, sinh ngày 06 tháng 9 năm 1959 tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Tổ X, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trần Quang T (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị S, sinh năm 1960 và 02 con (con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1984); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 3 năm 2018 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/3/2018 tại khu vực tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Trần Ngọc S bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy - Công an thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon mầu trắng, bên trong chứa chất cục, bột mầu trắng (S tự giác giao nộp và khai nhận là Heroine mua để sử dụng).
Cùng ngày 13/3/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc, mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định, kết quả: chất cục, bột mầu trắng thu giữ của Trần Ngọc S có khối lượng 0,149 gam. Lấy 0,05 gam (ký hiệu S1) làm mẫu gửi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 375/KLMT ngày 16/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định S1 là chất ma túy, loại chất Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,149 gam, loại chất Heroine.
Quá trình điều tra, Trần Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do tin tưởng sử dụng Heroine có thể chữa bệnh nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/3/2018, Trần Ngọc S đi bộ từ nhà ở tổ X, phường Q, thành phố Sơn La đến khu vực tổ 11, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng trong chăn nuôi. S đã gặp và mua của một thanh niên không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000đ. Sau đó, S cầm gói Heroine vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực tổ 02, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy - Công an thành phố Sơn La phát hiê ̣n bắt quả t ang cùng toàn bộ vật chứng thu giữ.
Về nguồn gốc 0,149 gam Heroine bị thu giữ: Bị cáo Trần Ngọc S khai mua của một người thanh niên không quen biết vào ngày 13/3/2018 tại khu vực tổ 11, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La nhưng S không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đó. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKSTP ngày 25/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Ngọc S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bi ̣ cáo Trần Ngọc S từ 15 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,099 (không phẩy không trăm chín mươi chín) gam Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng đã được niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Ngọc S, sinh năm 1956 - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/3/2018 gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu kho ký hiệu S2 có khối lượng 0,099 gam”.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc S nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do tin tưởng sử dụng Heroine có thể chữa bệnh, ngày 13/3/2018, Trần Ngọc S đã có hành vi cất giấu trái phép 0,149 gam Heroine với mục đích để sử dụng trong chăn nuôi thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/3/2018 tại tổ 2, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Trần Ngọc S cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon mầu trắng, bên trong chứa chất cục, bột mầu trắng, có khối lượng 0,149 gam Heroine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 375/KLMT ngày 16/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Mai Văn N, sinh năm 1965, trú tại: Tổ Y, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Ngọc S phạm tội với 0,149 gam Heroine, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ một năm đến năm năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã được đương nhiên xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Trần Ngọc S khai mua của một người thanh niên không quen biết tại khu vực tổ 11, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La nhưng S không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người thanh niên đó. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Trần Ngọc S phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Vật chứng vụ án:
Đối với 0,099 gam Heroine còn lại trong vụ án sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 (một) mảnh nilon màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 13/3/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,099 (không phẩy không trăm chín mươi chín) gam Heroine; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng đã được niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Ngọc S, sinh năm 1956 - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/3/2018 gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu kho ký hiệu S2 có khối lượng 0,099 gam”.
(Theo Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 13/3/2018 của Công an phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La; Biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 13/3/2018 của Công an thành phố Sơn La và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Trần Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/6/2018)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phan Thị Hoa |