vanban.org

Bản án 84/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Giàng A D 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/4/2018). Áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo số tiền 1.035.000VNĐ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2018/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Chơ Các hội thẩm nhân dân:

Ông Cầm Văn Tổ

Ông Nguyễn Đức Việt Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2018/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Giàng A D. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1973 tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng A D1 (đã chết) và bà: Vàng Thị D2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Sồng Thị D3, sinh năm 1975; Bị cáo có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1992 và con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2018, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lù A L, sinh năm 1999. Địa chỉ: Bản E, xã F, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 20/4/2018 tổ công tác Công an huyện Mai Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện tại khu vực cây xăng Hoàng Tiếp thuộc bản Mu Kít có 01 đối tượng đang ngồi trên xe máy hiệu WAVE, biển kiểm soát 26C1-04479 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác yêu cầu có ma tuý thì tự giác giao nộp nhưng D không giao nộp. Tổ công tác tiến hành kiểm tra tại túi áo khoác bên trái D đang mặc có 01 gói được gói bằng mảnh politilen màu trắng, bên trong là gói politilen màu hồng chứa 05 viên nén màu hồng, một mặt mỗi viên đều có chữ “WY” nghi là ma tuý tổng hợp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng A D và niêm phong vật chứng nêu trên. Kiểm tra thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Neoson model GT3521 màu đen xanh kèm theo sim, số tiền 1.035.000VNĐ tại túi quần sau bên phải D đang mặc, 01 xe mô tô nhãn hiệu HODA WaVe, biển kiểm soát 26C1- 044.79.

Quá trình điều tra Giàng A D khai nhận:

Khoảng đầu năm 2014, Giàng A D gặp một người đàn ông đi bán hàng rong tại khu vực trung tâm xã B, huyện Mai Sơn tự giới thiệu tên là Diệp. Diệp hỏi D có biết ở đâu bán cành đào thì chỉ cho Diệp, Diệp và D cho nhau số điện thoại để liên lạc. Do lâu không liên lạc nên D đã xóa tên và số điện thoại của Diệp trong danh bạ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/4/2018 khi D đang ở nhà tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì D nhận được cuộc gọi đến (D không nhớ số). D nghe máy thấy giọng nam tự giới thiệu tên là Diệp và nhờ D đến bản Nà Sẳng, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn để chở Diệp đến thị trấn Hát Lót có việc và nói sẽ trả công cho D 05 viên hồng phiến. D đồng ý, sau đó D điều khiển xe mô tô hiệu WAVE biển kiểm soát 26C1-044.79 (là xe của con rể D tên là Lù A L, cư trú tại bản E, xã F, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La) đến bản Nà Sẳng, xã Hát Lót để đón Diệp.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D gặp Diệp và nhận ra là người đã gặp D vào năm 2014. D chở Diệp đến thị trấn Hát Lót, nhưng khi đến thị trấn Hát Lót, Diệp bảo D tiếp tục chở Diệp đến xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn. Khi đi đến một bãi đất trống thuộc bản Phiêng Hịnh, xã Cò Nòi, Diệp bảo D dừng lại rồi lấy từ trong túi quần của Diệp ra 01 viên hồng phiến rồi rủ D sử dụng dưới hình thức hít. Sau khi sử dụng xong Diệp bảo D chở Diệp đến khu vực đường Quốc lộ 6 thuộc địa phận tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đến nơi Diệp bảo D dừng xe rồi Diệp đưa cho D 05 viên nén màu hồng. D nhận và cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc nhằm để sử dụng và điều khiển xe đi về hướng bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, còn Diệp đi đâu D không biết. Đến khu vực bản Mu Kít, xã Cò Nòi, D bị tổ công tác công an huyện Mai Sơn bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 21/4/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với 05 viên nén màu hồng thu giữ của Giàng A D. Kết quả:

Tổng khối lượng 05 viên nén màu hồng là 0,5gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M.

Ngày 30/4/2018, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 551/KLMT kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,5gam.”

Tại phiên toà bị cáo Giàng A D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSMS ngày 27/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Giàng A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 18 đến 21 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định.

Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Neoson Model GT 3521, vỏ màu đen của Giàng A D.

Tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án số tiền 1.035.000VNĐ của bị cáo.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lù A L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 26C1-04479, sơn màu đỏ, số khung RLHHC 1207BV326850, số máy 12E8126889.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Giàng A D tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Giàng A D khai nhận vào ngày 20/4/2018 bị cáo đã chở đối tượng tên Diệp đến tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và được trả công 05 viên hồng phiến có tổng trọng lượng 0,5gam để sử dụng vì bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy. Cùng ngày 20/4/2018 bị cáo đã bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 20/4/2018 của tổ công tác Công an huyện Mai Sơn, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 21/4/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; phù hợp với kết luận giám định số 551 ngày 30/04/2018 của Phòng k thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thu n.

Như vậy, với việc tàng trữ 0,5gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Giàng A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 68/CT-VKSMS ngày 27/7/2018 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 12/6/2017 với hình thức tự cai nghiện ma túy tại gia đình nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã không tự cai nghiện mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu vì có 01 tiền sự. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào vì tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định. Tuy nhiên, trong vụ án có thu giữ của bị cáo số tiền 1.035.000VNĐ. Dó đó, căn cứ khoản 5 Điều 249, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang bị cáo vật chứng gồm: 05 viên hồng phiến có trọng lượng 0,5gam đã trích rút toàn bộ làm m u giám định.

Đối với 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, đây là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Neoson Model GT 3521, vỏ màu đen của bị cáo Giàng A D, là vật sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công qu Nhà nước.

Đối với số tiền 1.035.000VNĐ thu giữ của bị cáo, xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 26C1-04479, sơn màu đỏ, số khung RLHHC 1207BV326850, số máy 12E8126889: xét thấy đây là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lù A L, anh L không biết việc bị cáo sử dụng tài sản vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh Lù A L.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma tuý, Giàng A D khai một người đàn ông tên Diệp (D không biết địa chỉ cụ thể) cho D ở khu vực bản Mu Kít, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhưng không có ai biết, chứng kiến do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 3 Điều 35 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Giàng A D 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/4/2018).

Áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo số tiền 1.035.000VNĐ.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định.

Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Neoson Model GT 3521, vỏ màu đen của Giàng A D.

Tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án số tiền 1.035.000VNĐ của bị cáo.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lù A L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 26C1-04479, sơn màu đỏ, số khung RLHHC 1207BV326850, số máy 12E8126889.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/8/2018).

Cỡ chữ