vanban.org

Bản án 84/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến N được ly hôn với anh Ngô Long C (Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015, quyển số 01/2015 ngày 03/6/2015 do Ủy ban nhân dân phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cấp).

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Ngô Huỳnh T, sinh ngày 07/8/2015 cho chị Huỳnh Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Yến N ly hôn với anh Ngô Long C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến N được ly hôn với anh Ngô Long C (Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015, quyển số 01/2015 ngày 03/6/2015 do Ủy ban nhân dân phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cấp).
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20-7-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Hiếu

2. Ông Tô Văn Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2018/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Yến N, sinh năm 1993; thường trú: Số 9B, tổ 18, khu 7, khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Long C, sinh năm 1982; thường trú: Số 9B, tổ 18, khu 7, khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1947 và bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1955; cùng địa chỉ: Số Số 9B, tổ 18, khu 7, khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/4/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn, chị Huỳnh Thị Yến N và anh Ngô Long C có thời gian tìm hiểu nhau hơn 01 năm, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015, quyển số 01/2015 ngày 03/6/2015.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh C ở 9B, tổ 18, khu 7, khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, anh C đánh bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ giữa năm 2017, trong thời gian sống ly thân không còn quan tâm, yêu thương nhau. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Chiến.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Ngô Huỳnh T, sinh ngày 07/8/2015. Sau ly hôn, chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Ngô Long C: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 12/6/2018 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 11/7/2018 và 20/7/2018 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

Về điều kiện thụ lý: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 11/7/2018 và 20/7/2018 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến N và anh Ngô Long C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D ngày 03/6/2015 theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 47/2015, quyển số 01/2015 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị Huỳnh Thị Yến N xác định sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, anh C đánh bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ giữa năm 2017. Tòa án đã lấy lời khai của người làm chứng ông Ngô Văn T và bà Trần Thị Kim C là cha mẹ ruột của anh C tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2018, là ba mẹ anh C xác định: Anh C và chị N thường xuyên xảy ra cãi nhau do chị N không lo làm ăn, không chăm sóc gia đình, hiện đã sống ly thân. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội phụ nữ phường Bình An nhưng Hội phụ nữ không biết về các mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án triệu tập anh C đến Tòa án để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh C không đến và chị N có đơn từ chối hòa giải, điều đó chứng tỏ trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và cả hai không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Huỳnh T, sinh ngày 07/8/2015. Khi giải quyết việc ly hôn, Tòa án cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Ngô Huỳnh T hiện dưới 36 tháng tuổi, là con gái cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị N nên Tòa án ghi nhận.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Yến N phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến N được ly hôn với anh Ngô Long C (Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015, quyển số 01/2015 ngày 03/6/2015 do Ủy ban nhân dân phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cấp).

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Ngô Huỳnh T, sinh ngày 07/8/2015 cho chị Huỳnh Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau ly hôn, chị Huỳnh Thị Yến N và anh Ngô Long C đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Huỳnh Thị Yến N không yêu cầu anh Ngô Long C cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Yến N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0019227 ngày 10/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ