- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà Phạm Thị Lệ H khởi kiện bà Vũ Thị Kim H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H phải trả tiền vay theo hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 476 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2017/DS- ST; Ngày 18 - 9 – 2017; “V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng;
2. Bà Nguyễn Thi ̣ Hồng Lâm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cảnh– Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cườ ng – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 - 9 - 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân TP. B xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2017/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2017/QĐXXST- DS ngày 21/8/2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
2. Bi ̣ đơn: Bà Vũ Thi ̣ Kim H, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
- Ngườ i đại diê ̣n theo ủy quyền cho bi ̣ đơn: Chi ̣ Lê Thi ̣ Thanh H, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà H: Ông Pha ̣m Văn N - Là Luật sư của Văn phòng luật sư B- Thuô ̣c Đoàn luâ ̣t sư tỉnh Đăk Lăk;
Địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
3. Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan: Anh Lâm Tấn V, sinh năm 1970;
̃
Địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, (Có mă ̣t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2017, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn: Chi ̣ Phạm Thi ̣ Lê ̣ H trình bày:
Từ năm 2014 đến nay vợ chồng chị H và anh V đa cho bã
̀ Vũ Thị Kim H vay tiền nhiều lần, hai bên đều thỏa thuâ ̣n mỗi lần vay đều lâ ̣p giấy vay tiền riêng và bên vay phải trực tiếp viết vào giấy vay, sau khi bên vay trả xong khoản tiền vay ghi trong giấy thi bên cho vay đưa la ̣i giấy vay tiền cho bên vay.
̀
Vào ngày 17/5/2016 vợ chồng chị H và anh V có cho bà Vũ Thi ̣ Kim H vay số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng), lãi suất 1%/tháng, thờ i ha ̣n vay 02 tháng, đến ngày 17/7/2016 trả gốc và lai, hai bên có viết giấy vay tiền. Bã
̀ Vũ Thi ̣ Kim H đa trã ̉ được 02 lần; lần 1: Vào ngày 17/7/2016 trả 100.000.000đồng và lần 2 vào ngày 28/12/2016 trả 70.000.000đồng. Tổng cộng bà Vũ Thi ̣ Kim H đã trả được 170.000.000đồng. Hiện bà Vũ Thi ̣ Kim H còn nợ 130.000.000đồng.
Chị H không đồng ý viê ̣c bà Vũ Thị Kim H cho rằng khoản tiền vay trên bà Vũ Thi ̣ Kim H đa trã ̉ 35.000.000đồng vào ngày 03/11/2016 và hai bên viết la ̣i giấy vay tiền mà bà Vũ Thị Kim H nô ̣p cho Tòa án, nô ̣i dung vay 265.000.000đồng, thi
̀ đây là mô ̣t khoản tiền chị H cho bà Vũ Thị Kim H vay ngày 03/01/2016, khoản tiền vay này không liên quan đến khoản tiền 300.000.000đồng bà Vũ Thị Kim H vay ngày 17/5/2016, không có việc chị H nói làm thất lạc mất giấy vay tiền ngày 17/5/2016, vì nếu làm mất giấy thì bà Vũ Thị Kim H sẽ không trả tiền cho chị H. Cả hai lần bà Vũ Thị Kim H đến trả tiền cho chị H theo giấy vay tiền ngày 17/5/2016 thì chị H đều ghi ngay số tiền mà bà Vũ Thị Kim H đã trả vào mặt sau của giấy vay tiền trước sự chứng kiến của bà Vũ Thị Kim H và ngày 28/12/2016 bà Vũ Thị Kim H vẫn còn trả tiền cho chị H theo giấy vay tiền ngày 17/5/2016.
Đối vớ i khoản tiền 265.000.000đồng chị H cho bà Vũ Thị Kim H vay vào ngày 03/01/2016, khoản tiền này bà Vũ Thị Kim H đa trã ̉ nợ xong và chị H trả la ̣i giấy vay tiền gốc cho bà Vũ Thị Kim H, khi vay và trả xong nợ thi trong giấy vay
̀ tiền không có nô ̣i dung viết trong giấy như: Tinh từ trên xuống dướ i dòng thứ 13
́
viết số “1”; dòng thứ 14 “ chuyển nợ từ giấy vay 17/5/2016”; dòng thứ 15 “ (giấy vay 17/5/2016 đã hết giá tri ̣)”; dòng thứ 18 tháng cho vay là tháng 01 thêm số “1” sử a thành tháng “11”. Những nô ̣i dung này là do bà Vũ Thị Kim H sau khi nhâ ̣n la ̣i giấy vay tiền đa tự̃ viết thêm vào. Trong Giấy vay tiền này chi ̣ H chỉ viết ở dòng dướ i cùng bên góc trái là“ 150 TR chưa lãi. 5/12.” khi bà Vũ Thị Kim H trả nợ 150.000.000đồng vào ngày 05/12/2016, số tiền còn la ̣i đến khoảng 07 ngày sau thi bà Vũ Thị Kim H trả hết nợ, ngoài chữ chi ̣ H viết ra, thi toàn bô ̣ chữ viết
̀
̀ còn la ̣i là chữ của bà Vũ Thị Kim H viết.
Nay đã quá thời hạn vay chị H yêu cầu bà Vũ Thị Kim H phải trả cho vợ chồng chị số tiền là 130.000.000đồng số tiền vay gốc còn nợ và tiền lãi theo mức lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 29/12/2016 đến 29/8/2017 là 08 tháng (240 ngày) là 10.400.000đồng. Tổng cộng gốc và lai là 140.400.000đồng.̃
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bi ̣ đơn: Ông Phạm Văn N trinh
̀ bà y:
Ngày 17/5/2016 bà Vũ Thị Kim H vay của chi ̣ H 300.000.000đồng, thờ i ha ̣n vay như trong giấy vay tiền, hai bên có thỏa thuâ ̣n lai, mữ
́ c lai suẫ
́t bà Vũ Thị Kim H không nhớ , khoản tiền này bà Vũ Thị Kim H đã trả nợ cho chi ̣ H 03 lần;
Lần 1: Ngày 03/11/2016 trả 35.000.000đồng, còn nợ la ̣i 265.000.000đồng, Giấy vay tiền ngày 17/5/2016 chị H nói làm thất la ̣c mất nên hai bên thỏa thuâ ̣n viết la ̣i Giấy vay tiền vớ i số tiền vay là 265.000.000đồng. Bà Vũ Thị Kim H là người trực tiếp viết nội dung trong giấy vay tiền.
Lần 2: Ngày 05/12/2016 trả 150.000.000đồng, chị H có viết tắt ở mặt trước phía dướ i cùng bên góc trái giấy vay tiền.
Lần 3: Ngày 25/01/2017 trả 115.000.000đồng, hai bên không ghi vào giấy.
Lý do những lần bà Vũ Thị Kim H khi trả tiền cho chị H hai bên không ghi rõ, đầy đủ nô ̣i dung là trả tiền vay nợ vào Giấy ghi nợ la ̣i tiền vay ngày 03/11/2016 là do hai bên trướ c đó đa cõ ́ quan hê ̣ vay tiền nhiều lần, tin tưở ng nhau, mỗi lần vay hai bên đều lâ ̣p giấy vay tiền, bên vay tiền khi trả nợ xong thi
̀ lấy la ̣i giấy vay tiền gốc. Ngày 05/12/2016 khi bà Vũ Thị Kim H trả 150.000.000đồng chị H có viết tắt vào ở mặt trước dòng dướ i cùng bên góc trái giấy là“ 150 TR chưa lãi. 5/12.” có chữ ký bà Vũ Thị Kim H cuối dòng.
Ngày 25/01/2017 (tứ c là ngày 28/12/2016 Âm li ̣ch) khi trả hết số tiền còn nợ 115.000.000đồng cho chị H, thi hai bên cũng không lâ ̣p giấy tờ gi, mà bà H chi ̉
̀
̀ đưa la ̣i giấy vay tiền viết ngày 03/11/2016 cho bà Vũ Thị Kim H.
Trong nô ̣i dung giấy vay tiền ngày 03/11/2016 có viết rõ “chuyển nợ từ giấy vay 17/5/2016; giấy vay 17/5/2016 đã hết giá tri ̣” nô ̣i dung này là bà Vũ Thị Kim H viết, nhưng viết khi hai bên lập giấy vay chứ không tự viết thêm vào sau khi chị H đưa lại giấy, sau hơn 01 tháng khi bà Vũ Thị Kim H trả 150.000.000đồng thi chị H có viết vào giấy.
̀
Như vâ ̣y, bà Vũ Thị Kim H đa trã ̉ xong khoản tiền vay 300.000.000đồng ngày 17/5/2016 cho chi ̣ H, yêu cầu Tòa án xem xét không chấp nhâ ̣n yêu cầu của nguyên đơn.
- Ngườ i đại diê ̣n theo ủy quyền cho bi ̣ đơn chi ̣ Lê Thi ̣ Thanh H trinh bà y:
̀ Chữ viết trong giấy vay tiền ngày 03/11/2016 thì chị H chỉ viết tắt ở mặt trước, dòng chữ cuối cùng bên góc trái là “150TR chưa lãi. 5/12”. Còn toàn bộ chữ viết còn lại trong giấy vay tiền là do bà Vũ Thi ̣ Kim H viết. Bà Vũ Thị Kim H không trả chị H số tiền 170.000.000đồng làm hai lần vào các ngày 17/7/2016 và ngày 28/12/2016. Còn các nội dung khác chi ̣ Lê Thi ̣ Thanh H thống nhất vớ i nô ̣i dung trinh bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bi ̣ đơn. ̀
Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan: Anh Lâm Tấn V thống nhất vớ i nô ̣i
̃ dung trinh bày của nguyên đơn.
̀
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về viê ̣c giải quyết vu ̣ án: Đề nghi ̣ HĐXX Á p du ̣ng Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H.
Buộc bà Vũ Thi ̣ Kim H phải trả cho vợ chồng chị H, anh V tổng số tiền là 140.400.000đồng tiền vay tài sản; (Trong đó: tiền gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi là 10.400.000đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về nội dung: Xét Giấy vay tiền ghi ngày 03/11/2016 có nô ̣i dung bà Vũ Thị Kim H vay chi ̣ H 265.000.000đồng từ ngày 03/11/2016, lý do vay tiền mu ̣c đich “ chuyển nợ từ giấy vay 17/5/2016”, thờ i ha ̣n trả gốc, laĩ “giấy vay ́ 17/5/2016 đã hết giá tri ̣”; Bà Vũ Thị Kim H cho rằng vào ngày 03/11/2016 khi bà Vũ Thị Kim H trả cho chi ̣ H 35.000.000đồng vào số tiền vay ngày 17/5/2016, thi
̀ chi ̣ H nói giấy vay tiền ngày 17/5/2016 bi ̣ thất la ̣c mất, nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh viê ̣c chi ̣ H nói mất giấy, mà thực tế Giấy vay tiền ngày 17/5/2016 chi ̣ H đang giữ và đã nô ̣p cho Tòa án.
Về nô ̣i dung và chữ viết trong giấy vay tiền ghi ngày 03/11/2016, tinh từ
́ trên xuống dướ i dòng thứ 13 viết số “1”; dòng thứ 14 viết“ chuyển nợ từ giấy vay 17/5/2016”; dòng thứ 15 viết “giấy vay 17/5/2016 đã hết giá tri ̣”; dòng thứ 18 tháng cho vay là tháng 01 viết thêm số “1” sử a tháng cho vay là tháng “11”, thi
̀ giấy này là do bà Vũ Thị Kim H giữ và nô ̣p cho Tòa án, những nô ̣i dung này các bên đều công nhâ ̣n là chữ của bà Vũ Thị Kim H viết, chi ̣ H không công nhâ ̣n số tiền vay trong giấy này cũng như nô ̣i dung viết là chuyển nợ từ giấy vay ngày 17/5/2016.
Bà Vũ Thi ̣ Kim H cho rằng đa trã ̉ cho chi ̣ H 03 lần tiền, nhưng những lần trả tiền vào các ngày 03/11/2016 trả 35.000.000đồng và ngày 25/01/2017 trả 115.000.000đồng nhưng không có tài liê ̣u, chứ ng cứ chứ ng minh, mà chi ̣ H chi ̉ công nhâ ̣n trong giấy khi bà Vũ Thị Kim H trả 150.000.000đồng vào ngày 05/12/2016. Giấy vay này bà Vũ Thị Kim H có và đã nộp cho Tòa án là do bà Vũ Thị Kim H đa trã ̉ nợ xong cho chi ̣ H và chi ̣ H đưa la ̣i giấy vay tiền cho bà Vũ Thị Kim H là phù hợp vớ i nô ̣i dung thỏa thuâ ̣n viê ̣c vay tiền của hai bên.
Khi bà Vũ Thị Kim H trả tiền cho chi ̣ H 02 lần vào khoản tiền vay ngày 17/5/2016; Lần 1: ngày 17/7/2016 trả 100.000.000đồng; Lần 2: ngày 28/12/2016 trả 70.000.000đồng, tổng cộng là 170.000.000đồng, đều được chi ̣ H ghi ngay vào mă ̣t sau giấy vay tiền có sự chứng kiến của bà Vũ Thị Kim H và tinh đến lần thứ
́ 02 bà Vũ Thị Kim H trả tiền (ngày 28/12/2016) thi thờ i điểm trả tiền này sau cả
̀ thờ i điểm lâ ̣p giấy vay tiền (ngày 03/11/2016).
Như vâ ̣y, khoản tiền 265.000.000đồng chi ̣ H cho bà Vũ Thị Kim H vay ghi ngày 03/11/2016, thi đây là mô ̣t khoản tiền vay riêng, không phải khoản tiền
̀ chuyển nợ từ số tiền vay ngày 17/5/2016 và cần khẳng đi ̣nh khoản tiền vay 300.000.000đồng ngày 17/5/2016 bà Vũ Thị Kim H chưa trả nợ xong cho chị H, nên chi ̣ H vẫn còn giữ la ̣i giấy vay tiền gốc.
. Xét yêu cầu kiện đòi tiền vay tài sản của chi ̣ Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H:
Khoản tiền vay gốc là 130.000.000đồng và tiền lãi là 10.400.000đồng của vợ chồng chi ̣ H, anh V đối với bà Vũ Thị Kim H, thì thấy trong quá trình giải quyết vụ án và ta ̣i phiên tòa phía bị đơn bà Vũ Thị Kim H đều thừa nhận vào ngày 17/5/2016 có vay của chi ̣ H 300.000.000đồng, thời hạn vay 02 tháng đến ngày 17/7/2016 trả gốc và lai, cõ
́ thỏa thuâ ̣n lai suẫ
́t vay.
Chi ̣ H và bà Vũ Thị Kim H đều thừ a nhâ ̣n hai bên đa cõ ́ quan hê ̣ vay tiền nhiều lần và khi cho vay hai bên thỏa thuâ ̣n và bên vay phải trực tiếp viết vào giấy vay, sau khi bên vay trả xong khoản tiền vay ghi trong giấy thi bên cho vay đưa la ̣i
̀ giấy vay tiền gốc cho bên vay.
. Xét thấy đây là hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) đến thời hạn trả tiền, nhưng bà Vũ Thi ̣ Kim H không trả tiền cho vợ chồng chi ̣ H, anh V theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng (Điều 474 BLDS). Việc hai bên làm giấy vay tiền vào ngày 17/5/2016 là hoàn toàn tự nguyện, bà Vũ Thị Kim H vay 300.000.000đồng và đa trã
̉ được tổng cộng là 170.000.000đồng, còn nợ 130.000.000đồng.
Do đó yêu cầu kiện đòi tiền của chi ̣ H về khoản tiền bà Vũ Thị Kim H vay và tiền lãi còn nợ là đúng pháp luật. Nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005; Cụ thể tiền gốc là 130.000.000đồng, tiền lãi là: 130.000.000đồng x 1%/tháng x (240ngày : 30) = 10.400.000đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 140.400.000đồng.
Căn cứ vào Điều 471, 474, khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005 cần buộc bà Vũ Thị Kim H phải trả cho vợ chồng chi ̣ Phạm Thị Lệ H, anh Lâm Tấn V số tiền vay còn nợ là 140.400.000đồng tiền vay tài sản; (Trong đó: tiền gốc vay là 130.000.000đồng và tiền lãi là 10.400.000đồng).
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch mà HĐXX buộc phải trả là 140.400.000 đồng x 5% = 7.020.000đồng.
Chi ̣ Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H được nhận lại 3.250.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chi ̣ Hiê ̣p đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc bà Vũ Thi ̣ Kim H phải trả cho vợ chồng chi ̣ Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H và anh Lâm Tấn V số tiền là 140.400.000đồng (Một trăm bốn mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng), tiền vay tài sản; (Trong đó: Tiền gốc là 130.000.000đồng và tiền lãi là 10.400.000đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Bà Vũ Thi ̣ Kim H phải chi ̣u 7.020.000đồng (Bảy triê ̣u, không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Chi ̣ Pha ̣m Thi ̣ Lê ̣ H được nhận lại 3.250.000đồng (Ba triệu, hai trăm lăm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị Phạm Thị Lệ H đã nộp (Anh Lâm Tấn V nô ̣p thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000468, ngày 23/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
3. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - P. Kiểm tra- TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND TP. B; - CC THADS TP. B; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Phạm Văn Đoàn |