vanban.org

Bản án 837/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn C.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị Nguyên T. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST CƯỜNG- THẢO"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 837/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 11- 2019
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Phan Minh Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Phó.

Ông Lê Hoài Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Huy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 554/2019/TLST-HNGĐ ngày 05/8/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/10/2019 và Quyết định hoãn tòa số 115/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp TQ, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Nguyên T, sinh năm 1985.

Tạm trú: Ấp TQ, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

HKTT: số 23, LP, thị trấn CĐ, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa.

(anh C có mặt; chị T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 22/7/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là anh Lê Văn C trình bày: Anh và chị T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng do anh chị bất đồng với nhau quan điểm sống, từ đó vợ chồng sống ly thân luôn cho đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được, nên anh yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với chị T .

Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai của bị đơn là chị Nguyễn Thị Nguyên T trình bày: Chị và anh C tự tìm hiểu đến với nhau, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lý Đông, Châu Thành, Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2016 chị bị bệnh tim và phải mổ nhiều lần. Anh C không hề quan tâm chăm sóc cho chị và có quan hệ với người phụ nữ khác. Vợ chồng chị không có mâu thuẫn gì hết, từ khi chị bị bệnh vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh C yêu cầu ly hôn, chị không đồng ý ly hôn, vì chị theo đạo thiên chúa không được ly hôn.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Nguyên T là bị đơn đã triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị T .

Về hôn nhân: Anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị Nguyên T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lý Đông, là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa anh C vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với chị T , do tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Chị T tuy vắng mặt nhưng có bản tự khai trình bày ý kiến, về mâu thuẫn vợ chồng không có, mà do chị bị bệnh tim nên anh C không quan tâm chăm sóc cho chị, từ đó anh có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị không đồng ý ly hôn là do chị theo đạo thiên chúa. Xét thấy lời trình bày này của chị T là chưa phù hợp. Bởi tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ tình thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 “ Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu chung thủy, tôn trọng, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” Nhận thấy anh C và chị T không còn thương yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc chị T nêu lý do không đồng ý ly hôn với anh C là do chị theo đạo là không có cơ sở. Và trong quá trình giải quyết vụ án, chị T cũng không cung cấp hồ sơ bệnh án bị bệnh tim và các chứng cứ để chứng minh anh C có quan hệ với người khác. Do đó yêu cầu của chị T không được chấp nhận.

Xét thấy, anh C và chị T thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, trong thời gian ly thân anh chị cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó cơ sở xác định, tình trạng hôn nhân của anh chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần cho anh C được ly hôn với chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng được qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn C.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị Nguyên T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Anh Lê Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng theo biên lai thu số 01102 ngày 01/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, như vậy anh C đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ