vanban.org

Bản án 832/2026/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 đối với ông Ngô Văn C.

Xác định số tiền gốc, lãi ông Ngô Văn C còn nợ Ngân hàng TMCP C1 đến ngày 30/6/2026 số tiền: Nợ gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 4.825.316.667đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.408.699.621 đồng; Tổng cộng: 10.234.016.288 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011 và Khế ước nhận nợ ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng T- ngô văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 đối với ông Ngô Văn C.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7-HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 832/2026/DSST
Ngày 02/7/2026
Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng

- Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Ba

2/ Ông Đào Ngọc San

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm - Cán bộ Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Hà Nội: Bà Dương Thị Hiệp-sát viên

Ngày 02 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 637/2025/TLST- DS ngày 26 tháng 12 năm 2025. Về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2026/QĐST-DS ngày 06/6/2026; giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1. Địa chỉ: Số A T, phường C, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP C1: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP C1. Địa chỉ: Số G N, phường N, Quận A, TP ..

Đại diện tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tuấn A. Sinh ngày 20/12/1994. Chuyên viên xử lý nợ, Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP C1.

2. Bị đơn: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1980. CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Nơi đăng ký thường trú: Khu T, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1969; CMND số xxxxxxxxx

3.2. Bà Đinh Thị T, sinh năm 1972; CMND số xxxxxxxxxx

Đều cư trú tại: Khu dân cư M, N, phường H, thành phố Hà Nội.

3.3. Ông Lê Mạnh H1, sinh năm 1972; CCCD số: xxxxxxxxxxxx;

3.4. Bà Lê Thị Việt H2, sinh năm 1975; CCCD số xxxxxxxxxxxx;

3.5. Chị Lê Quỳnh A1, sinh năm 2002; CCCD số xxxxxxxxxxxx;

Đều có HKTT: Tổ G, phường Y, tỉnh Lào Cai; chỗ ơ: Thôn X, xã Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Ngọc H, bà Đinh Thị T, bà Lê Thị Việt H2, chị Lê Quỳnh A1 là: Ông Lê Mạnh H1, sinh năm 1972. CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Cư trú tại: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội.

Có mặt: Ông Nguyễn Tuấn A, ông Lê Mạnh H1.

Vắng mặt: Ông Ngô Văn C. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2025 của Ngân hàng TMCP C1 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh Đ (sau đây gọi là V) và ông Ngô Văn C (Sau đây gọi là Bên vay) đã ký kết Hợp đồng tín dụng sau đây: - Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011 + Số tiền cho vay: 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng). + Thời hạn cho vay: 10 tháng + Lãi suất tại thời điểm cho vay: 21 %/năm. + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. + Mục đích sử dụng tiền vay: Kinh doanh VLXD + V đã giải ngân qua Giấy nhận nợ ngày 01/07/2011 với tiền giải ngân là 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng).

Đề bảo đảm cho khoản vay của ông Ngô Văn C là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ X, X, huyện Đ, TP Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010 cấp cho ông Lê Mạnh H1 và bà Lê Thị Việt H2 (Đăng ký sang tên theo hợp đồng số 1670/CNQSDĐ/2011 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 22/04/2011 cho ông Phạm Ngọc H và bà Đinh Thị T) Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba công chứng số 5629/2011/HĐTC ngày 25/06/2011 giữa ông Phạm Ngọc H cùng vợ là bà Đinh Thị T và Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh Đ và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng các quy định pháp luật. 3. Sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán, dư nợ: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ngô Văn C đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông C trả nợ nhưng ông C không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến thời điểm ngày 16/11/2025, ông Ngô Văn C đang nợ Ngân hàng TMCP C1 tổng số tiền là 9.979.316.238 đồng (Số tiền bằng chữ: Chín tỷ, chín trăm bảy mươi chín triệu, ba trăm mười sáu nghìn, hai trăm ba mươi tám đồng); chi tiết như sau:

- Dư nợ gốc : 3.000.000.000 đồng;

- Dư nợ lãi trong hạn: 4.655.516.667 đồng;

- Dư nợ lãi quá hạn: 2.323.799.571 đồng.

Nay quan điểm của Ngân hàng:

1. Buộc ông Ngô Văn C thanh toán cho V số tiền tính đến thời điểm ngày 16/11/2025 là 9.979.316.238 đồng (Số tiền bằng chữ: Chín tỷ, chín trăm bảy mươi chín triệu, ba trăm mười sáu nghìn, hai trăm ba mươi tám đồng); chi tiết như sau:

- Dư nợ gốc : 3.000.000.000 đồng;

- Dư nợ lãi trong hạn: 4.655.516.667 đồng;

- Dư nợ lãi quá hạn : 2.323.799.571 đồng.

Buộc ông Ngô Văn C thanh toán phần nợ lãi, lãi quá hạn, lãi phạt phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp Đồng Tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký kết tính từ ngày 17/11/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Ngô Văn C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho V, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ X, X, huyện Đ, TP Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010 cấp cho ông Lê Mạnh H1 và bà Lê Thị Việt H2 (Đăng ký sang tên theo hợp đồng số 1670/CNQSDĐ/2011 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 22/04/2011 cho ông Phạm Ngọc H và bà Đinh Thị T) Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Ngô Văn C đối với V. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Ngô Văn C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V.

* Bị đơn là ông Ngô Văn C trình bày: Ông và ông Lê Mạnh H1, bà Lê THị Việt H2 không có quan hệ gì. Ông với vợ chồng ông Phạm Ngọc H, bà Đinh Thị T có quan hệ quen biết từ trước. Ông công nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011với số tiền vay như Ngân hàng trình bày. Lý do ông ký hợp đồng là do ông H, bà T có nhu cầu vay vốn làm ăn kinh doanh tuy nhiên không thông thạo thủ tục vay vốn của Ngân hàng nên có nhờ ông đứng ra làm thủ tục vay tiền từ Ngân hàng V, số tiền vay là 3.000.000.000đ. Sau khi ký hợp đồng vay vốn, Ngân hàng đã giải ngân cho ông số tiền vay là 3.000.000.000đ. Ông đã giao lại số tiền này cho vợ chồng ông H, bà T. Sau đó ông có nhu cầu cần tiền cho công việc kinh doanh nên ông có vay của vợ chồng ông H, bà T số tiền 1.000.000.000đ. Giữa ông và vợ chồng ông H, bà T thống nhất ông tự chủ động nộp tiền lãi vay cho Ngân hàng theo lãi suất quy định của Ngân hàng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên ông H bà T đã thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ X, xã Đ, huyện Đ, TP Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010 cấp cho ông Lê Mạnh H1 và bà Lê Thị Việt H2 (Đăng ký sang tên theo hợp đồng số 1670/CNQSDĐ/2011 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 22/04/2011 cho ông Phạm Ngọc H và bà Đinh Thị T). Quá trình trả nợ là do ông và bà T trực tiếp trả nợ cho Ngân hàng. Do bà T và ông không trả nợ khoản vay và lãi phát sinh đúng thời hạn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng.

Nay quan điểm của ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc đòi tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm. Ông không có ý kiến gì.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Mạnh H1 trình bày: Năm 2010, 2011, do dính nợ xấu tại ngân hàng trên Yên Bái nên ông có nhờ ông Phạm Ngọc H, bà Đinh Thị T đứng tên hộ thửa đất gia đình là thửa số 05, tờ bản đồ số 41, địa chỉ: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội để vay tiền rút tài sản ở ngân hàng ra. Việc ông H, bà T đứng hộ tên thửa dất gia đình tôi được lập thành văn bản và được công chứng tại Văn phòng C2 vào ngày 22/4/2011. Tại thời điểm ông C làm thủ tục vay ngân hàng, thế chấp quyền sử dụng thửa đất 05, tờ bản đồ số 41, địa chỉ: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội thì ông cũng không biêt số tiền ông C vay là 3.000.000.000 đồng. Nhưng ông cũng không có ý kiến gì. Việc ông C vay tiền là ông C sử dụng riêng cho ông C, cũng không đưa cho ông H, bà T cũng như ông và gia đình ông. Sau khi ông C làm thủ tục vay ngân hàng, ông cũng có một thời gian chuyển tiền cho ông C để trả tiền lãi ngân hàng đến khi ông không liên lạc được với ông C thì ông không chuyển tiền cho ông C nữa. Đến nay, Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện yêu cầu ông Ngô Văn C trả tiên nợ đã vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kêt, ông có ý kiến như sau:

Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện ông Ngô Văn C. Gia đình ông và ông có nguyện vọng: Yêu cầu ông Ngô Văn C có mặt tại Tòa án để trình bày quan điểm về việc trả nợ cho Ngân hàng TMCP C1 về quá trình vay nợ, trả nợ và trách nhiệm trả nợ đối với Ngân hàng. Trường hợp ông C không có mặt thì ông và gia đình xin đứng ra trả thay nợ phần nợ gốc của ông C là 3.000.000.000 đồng. Về số tiền nợ lãi: Ông và gia đình yêu cầu ông C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng.

Hiện gia đình ông vẫn đang trực tiếp sinh sống trên thửa dất 05, tờ bản đồ số 41, địa chỉ: Thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội, gồm: Ông là Lê Mạnh H1, sinh năm 1972, vợ ông là Lê Thị Việt H2, sinh năm 1975 và chị Lê Quỳnh A1, sinh năm 2002 là con gái ông. Ngoài ra, không còn ai khác đang sinh sống trên đất. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đê nào khác.

- Ông Lê Mạnh H1 là đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Ngọc H, bà Đinh Thị T, bà Lê Thị Việt H2, chị Lê Quỳnh A1: nhất trí như quan điểm của ông đã trình bày.

Tại phiên tòa:

* Nguyên đơn trình bày: Buộc ông Ngô Văn C thanh toán cho V số tiền tính đến thời điểm ngày 30/6/2026, ông C còn nợ Ngân hàng số tiền: Nợ gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 4.825.316.667đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.408.699.621 đồng; Tổng cộng: 10.234.016.288 đồng. Buộc ông Ngô Văn C tiếp tục trả nợ lãi, lãi quá hạn, lãi phạt phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp Đồng Tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký kết ngày 07/11/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Nếu ông Ngô Văn C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho V. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Ngô Văn C đối với V. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Ngô Văn C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V.

* Ông Lê Việt H2 trình bày: ông là chủ thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ X, xã Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010. Năm 2010-2011, do ông làm ăn kinh doanh thua nỗ cần tiền trả nợ Ngân hàng nên có nhờ ông H, bà T đứng ra vay tiền hộ và ông có làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho ông H, bà T để thế chấp vay tiền. Sau đó ông có biết ông H, bà T đã nhờ ông C đứng ra làm thủ tục vay tiền với số tiền 3.000.000.000đ. Nay ông đề nghị Ngân hàng cho gia đình ông trả nợ gốc và xem xét miễn lãi cho ông.

+ Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Hà Nội tham gia phiên tòa:

- Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của BLTTDS

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành các quy định của BLTTDS.

- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, ngày 29/06/2026, Viện KSND khu vực G đã ban hành Yêu cầu xác minh số 38 yêu cầu Toà án: Về quan hệ tranh chấp: Ngày 26/12/2025 Toà án ra Thông báo thụ lý vụ án. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn với nhau. Ông Ngô Văn C sử dụng với mục đích kinh doanh vật liệu xây dựng (Thể hiện trong Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011: BL59-67), ngoài ra để được ký kết Hợp đồng tín dụng ông Ngô Văn C còn có Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển đối với cá nhân, hộ gia đình. Trong văn bản thể hiện ông Ngô Văn C có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 01F80030578 do UBND quận T – Phòng Tài chính kế hoạch cấp lần đầu ngày 25/04/2011, thể hiện phương án kinh doanh cụ thể, tỷ mỉ về vật liệu xây dựng (thép, xi măng). Yêu cầu: Thẩm phán thu thập Giấy đăng ký kinh doanh để xác định là Giấy đăng ký kinh doanh của hộ gia đình hay của cá nhân ông Ngô Văn C, hiện hộ gia đình hay cá nhân ông Ngô Văn C còn hoạt động kinh doanh hay không để xác định xem là Tranh chấp dân sự theo Điều 26 BLDS hay tranh chấp kinh doanh thương mại theo Điều 30 BLDS để đảm bảo việc xác định tranh chấp đúng theo quy định pháp luật. Đến thời điểm hiện tại Toà án cung cấp tài liệu của nguyên đơn xác định tại buổi làm việc với Toà án, Toà án yêu cầu bổ sung “Giấy phép đăng ký hộ kinh doanh” của ông Ngô Văn C, tuy nhiên V rà soát hồ sơ thì không thấy có tài liệu theo yêu cầu của Toà án nên không cung cấp được. Toà án chưa thực hiện việc thu thập Giấy phép đăng ký kinh doanh của hộ gia đình hoặc cá nhân ông C, cũng như chưa xác định hiện hộ gia đình hay cá nhân ông Ngô Văn C còn hoạt động kinh doanh hay không tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, xác định Toà án chưa thực hiện hết yêu cầu xác minh của Viện kiểm sát.

Do đó, vụ án chưa đủ điều kiện đưa ra xét xử, Viện kiểm sát chỉ phát biểu về mặt tố tụng, không phát biểu về mặt nội dung đối với vụ án trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc lãi còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011. Bị đơn hiện đang cư trú tại Khu T, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Theo Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011 thì mọi sự việc xảy ra tranh chấp được giải quyết tại Toà án nơi có trụ sở hoặc chi nhánh của bị đơn. Do đó đây là tranh chấp Hợp đồng dân sự nên theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Về quan hệ pháp luật: Theo hợp đồng tín dụng thể hiện ông Ngô Văn C với tư cách là cá nhân vay để kinh doanh VLXD. Tại Giấy nhận nợ ngày 01/7/2011, ông C cũng ký với tư cách cá nhân. Trong giấy đề nghị vay vốn, các chứng từ chứng minh mua hàng của ông C có thể hiện ông C có đăng ký hộ kinh doanh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã yêu cầu các bên cung cấp giấy đăng ký kinh doanh của ông C nhưng không ai xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của ông C. Hơn nữa hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ các bên đã ký là cá nhân ông C ký vay tiền chứ không phải với tư cách đại diện cho chủ doanh nghiệp H3 chủ hộ kinh doanh. Do đó, Tòa án thụ lý vụ án và xác định đây là vụ án dân sự thuộc khoản 3 Điều 26 BLTTDS là có căn cứ. Yêu cầu và ý kiến nhận xét của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với quy định.

. Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ, thông báo yêu cầu thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng bị đơn có đơn xin vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn, theo quy định là phù hợp với Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, thể hiện:

Ngày 29/6/20211 giữa Ngân hàng TMCP C1 Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011 + Số tiền cho vay: 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng). + Thời hạn cho vay: 10 tháng + Lãi suất tại thời điểm cho vay: 21 %/năm. + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. + Mục đích sử dụng tiền vay: Kinh doanh VLXD + V đã giải ngân qua Giấy nhận nợ ngày 01/07/2011 với tiền giải ngân là 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng) cho ông C. Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận là có ký hợp đồng tín dụng và nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký cho bị đơn. Các bên đều không có ý kiến gì về việc ký kết hợp đồng, quá trình thực hiện giải ngân. Hợp đồng này khi ký kết các bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự và không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên các bên có quyền, nghĩa vụ phải thực hiện.

Khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 30/6/2026, ông C còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc: 3.000.000.000 đồng chưa thanh toán. Do đó, ông C phải có tranh nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc mà Ngân hàng đã giải ngân cho ông C.

- Việc tính lãi trong hạn và quá hạn của nguyên đơn không vi phạm quy định pháp luật về tính lãi nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để tính lại. Do đó, xác định tính đến ngày 30/6/2026, ông C còn nợ Ngân hàng số tiền lãi chưa trả là lãi trong hạn: 4.825.316.667đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.408.699.621 đồng;

Như vây, cần buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nguyên đơn tổng số tiền cả gốc và lãi trên tổng cộng là 10.234.016.288 đồng

Kể từ ngày 01/7/2026, bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc của Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ.

[2.2.] Về tài sản bảo đảm: Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ của nguyên đơn nhận thấy: Để đảm bảo cho khoản vay trên ông H, bà T đã thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ X, xã Đ, TP Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010 cấp cho ông Lê Mạnh H1 và bà Lê Thị Việt H2 (Đăng ký sang tên theo hợp đồng số 1670/CNQSDĐ/2011 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 22/04/2011 cho ông Phạm Ngọc H và bà Đinh Thị T).

Theo biên bản xem xét của Toà án ngày 04/2/2026 thì hiện nay trên tài sản thế chấp có các công trình đã xây dựng trước khi thế chấp như là nhà 1 tầng mái ngói, bể nước, tường gạch, sân bê tông, cổng. Hiện có ông Lê Mạnh H1, bà Lê Thị Việt H2 và các con ông H2, bà H2 đang ăn ở trên đất ngoài ra không có ai khác.

Theo ông Lê Mạnh H1 trình bày ông có chuyển nhượng cho ông H, bà T nhà đất trên để nhờ ông H, bà T vay tiền để trả nợ khoản vay khác tại Ngân hàng với số tiền vay hơn tỷ đồng. Ông biết việc ông C vay tiền và ông H, bà T thế chấp để vay tiền nhưng ông không có ý kiến gì.

Xét thấy: Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Việc ông H1 là chủ cũ của thửa đất thế chấp biết việc thế chấp vay tiền nhưng không có ý kiến. Do đó, yêu cầu của ngân hàng về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ, được chấp nhận.

Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Hà Nội không phát biểu ý kiến về nội dung và đề nghị giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền nợ gốc và lãi được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp

Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều: 117, 119, 327, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 157, 158, Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 đối với ông Ngô Văn C.

2. Xác định số tiền gốc, lãi ông Ngô Văn C còn nợ Ngân hàng TMCP C1 đến ngày 30/6/2026 số tiền: Nợ gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 4.825.316.667đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.408.699.621 đồng; Tổng cộng: 10.234.016.288 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 204/HĐTD-NH ngày 29/06/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 01//7/2011;

3. Buộc ông Ngô Văn C phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 01/7/2026 là: Nợ gốc: 3.000.000.000 đồng; lãi trong hạn: 4.825.316.667đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.408.699.621 đồng; Tổng cộng: 10.234.016.288 đồng (Mười tỷ hai trăm ba mươi bốn triệu không trăm mười sáu nghì hai trăm tám mươi tám đồng);

3. Kể từ ngày 01/7/2026, ông C phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả xong toàn bộ khoản vay.

4. Về tài sản bảo đảm: Trong trường hợp ông Ngô Văn C không trả nợ ngay thì Ngân hàng TMCP C1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận số BC464182, số vào sổ cấp GCN: 3801.QĐ-UBND.2010.CH.00354.2010 do UBND huyện Đ, TP Hà Nội cấp ngày 06/09/2010 cấp cho ông Lê Mạnh H1 và bà Lê Thị Việt H2 (Đăng ký sang tên theo hợp đồng số 1670/CNQSDĐ/2011 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 22/04/2011 cho ông Phạm Ngọc H và bà Đinh Thị T) để thu hồi nợ.

5. Về án phí:

5.1. Ông C phải chịu 118.234.000 đồng tiền án phí để sung vào ngân sách Nhà nước.

5.2. Hoàn trả Ngân hàng TMCP C1 số tiền 58.989.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số BLTU/25E 00720880 ngày 23/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Án xử công khai, sơ thẩm. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ