- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T và sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 831/2026/HS-PT Ngày: 18-9-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng
Các Thẩm phán:
1. Ông Phạm Viết Hùng
2. Bà Trần Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 752/2026/HSPT ngày 25 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Minh T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 209/2026/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026, của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Minh T, giới tính: nam; sinh năm 2002; tại tỉnh Tây Ninh (trước đây là tỉnh Long An); Nơi thường trú: Ấp L, xã C, tỉnh Tây Ninh (trước đây là xã T, huyện C, tỉnh Long An); Chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, Khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh); Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại học T3; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim T1; vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/4/2025 đến nay (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Hoàng N nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2024, Nguyễn Hoàng N gặp người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch, có sử dụng số điện thoại 0934 516 635), N và T2 thỏa thuận tìm người tham gia đánh bạc thông qua trang Web SV388.com, N được hưởng 10% trên tổng số tiền của người tham gia đánh bạc. Ai có nhu cầu thì nhắn tin đến số điện thoại 0934 516 635, mỗi điểm đặt cược tương ứng với 50.000 đồng, người chơi nhắn tin số điểm tương ứng với số tiền cho T2, thì T2 cung cấp tài khoản, mật khẩu được cài đặt sẵn để người chơi đăng nhập vào trang Web SV388.com đặt cược. Tý quản lý các tài khoản để tính tiền thắng thua với người chơi. Khi có người chơi do N rủ rê được, T2 sẽ tính tiền thắng thua trên các tài khoản rồi thông báo cho N biết để Nhân tính tiền với khách và khi tính tiền với T2 thì N sẽ trừ 10% tiền hoa hồng. Hàng tuần vào khoản 11 giờ 30 phút, ngày thứ 2, T2 và Nhân tính tiền thắng thua.
Sau đó, N đã gặp và rủ rê được Nguyễn Minh T (sinh năm 2002, là sinh viên Trường Đại học T3) tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền thông qua trang Web SV388.com với cách thức tính thắng thua như trên. Khi T tham gia cá cược sẽ gửi tin nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 của T2 để nhận tài khoản và mật khẩu đăng nhập.
Vào khoảng 14 giờ 05 phút ngày 23/12/2024, T sử dụng số điện thoại 0364 427 666 nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 yêu cầu cung cấp tài khoản và mật khẩu đăng nhập tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, số điểm là 400 điểm tương đương với số tiền là 20.000.000 đồng. T2 gửi cho T tài khoản “cangio05”, mật khẩu “Gggg5555” để T đăng nhập vào trang Web SV388.com tham gia đánh bạc. Sau khi nhận được tài khoản và mật khẩu T đăng nhập vào trang Web SV388.com rồi đặt cược nhiều trận đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì thắng được 410 điểm tương đương số tiền là 20.500.000 đồng nhưng T không đăng xuất tài khoản mà vẫn để trong tình trạng đăng nhập rồi đi công việc. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, T bị Tổ công tác 363 – Công an huyện Nhà Bè kiểm tra phát hiện hành vi đánh bạc.
Ngay sau khi Công an phát hiện hành vi đánh bạc, Nguyễn Minh T đã khai ra Nguyễn Hoàng Nhân từ đó Công an đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Minh T.
Trong quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Minh T có khai thêm vào ngày 05/11/2024, T sử dụng số điện thoại 0364 427 666 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 yêu cầu cung cấp tài khoản và mật khẩu đăng nhập tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, số điểm là 400 điểm tương đương với số tiền là 20.000.000 đồng. T2 gửi cho T tài khoản “cangio001”, mật khẩu “Gggg1111” để T đăng nhập vào trang Web SV388.com tham gia đánh bạc. Sau khi đưa tài khoản cho T, T2 điện thoại cho N thông báo sự việc trên và sau đó N với T thỏa thuận là trong quá trình tham gia đánh bạc, nếu T thắng hoặc thua số tiền trên 5.000.000 đồng thì phải chuyển tiền để trả thì cả hai đồng ý. Sau khi có tài khoản, T đăng nhập vào tài khoản chơi liên tục, thua tổng số tiền 12.650.000 đồng và T sử dụng tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần K (T4) số 922268869999 chuyển trả số tiền 12.650.000 đồng cho N qua tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần T5 (S) số 070094281111 do N sử dụng. Về phía N sau khi nhận được tiền từ T thì N giữ lại 10% và chỉ chuyển cho T2 11.385.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 261/CT-VKSKV6 ngày 13/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 209/2026/HS-ST ngày 15-7-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến ngày 27/7/2026, bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo; đến ngày 17/9/2026 bị cáo có nộp đơn xin áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện và bị cáo xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo: nhận thấy mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là tương xứng với hành vi bị cáo gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo T trình bày lời bào chữa: khi bị Tổ công tác 363 phát hiện hành vi đánh bạc thì bị cáo đã khai ra Nguyễn Hoàng N; bản thân bị cáo hiện đang là sinh viên năm 4 của Trường Đại học T3, có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội, bị cáo có một khoản tiền do bị cáo đi làm thêm tích cóp được và người thân cho bị cáo, bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự Thành phố H để bảo đảm cho việc thi hành án phạt tiền. Do đó, xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo để bị cáo có điều kiện tiếp tục đi học và làm người có ích cho xã hội.
- Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Minh T xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền để bị cáo có điều kiện tiếp tục được đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng tháng 11/2024, Nguyễn Hoàng N gặp người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch, có sử dụng số điện thoại 093.451.6635), N và T2 thỏa thuận tìm người tham gia đánh bạc thông qua trang Web SV388.com, N sẽ được hưởng 10% trên tổng số tiền của người tham gia đánh bạc.
Sau đó, Nguyễn Hoàng N đã rủ rê được Nguyễn Minh T (sinh năm 2002, là sinh viên Trường Đại học T3) tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền thông qua trang Web SV388.com với cách thức tính thắng thua như trên. Khi T tham gia cá cược sẽ gửi tin nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 của T2 để nhận tài khoản và mật khẩu đăng nhập.
Vào khoảng 14 giờ 05 phút ngày 23/12/2024, T sử dụng số điện thoại 0364 427 666 nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 yêu cầu cung cấp tài khoản và mật khẩu đăng nhập tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, số điểm là 400 điểm tương đương với số tiền là 20.000.000 đồng. T2 gửi cho T tài khoản “cangio05”, mật khẩu “Gggg5555” để T đăng nhập vào trang Web SV388.com tham gia đánh bạc. Sau khi nhận được tài khoản và mật khẩu T đăng nhập vào trang Web SV388.com rồi đặt cược nhiều trận đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì thắng được 410 điểm tương đương số tiền là 20.500.000 đồng nhưng T không đăng xuất tài khoản mà vẫn để trong tình trạng đăng nhập rồi đi công việc. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, T bị Tổ công tác 363 – Công an huyện Nhà Bè kiểm tra phát hiện hành vi đánh bạc.
Ngay sau khi Công an phát hiện hành vi đánh bạc, Nguyễn Minh T đã khai ra Nguyễn Hoàng N. Và trong quá trình điều tra sau đó, Nguyễn Minh T có khai thêm vào ngày 05/11/2024, T sử dụng số điện thoại 0364 427 666 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0934 516 635 yêu cầu cung cấp tài khoản và mật khẩu đăng nhập tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà, số điểm là 400 điểm tương đương với số tiền là 20.000.000 đồng. T2 gửi cho T tài khoản “cangio001”, mật khẩu “Gggg1111” và T đăng nhập vào trang Web SV388.com tham gia đánh bạc nhưng thua tổng số tiền 12.650.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 là đúng người, đúng tội.
Ngày 15/7/2026 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 27/7/2026 bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo. Xét thấy, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo: hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội, do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử còn xem xét đến tính chất của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình của bị cáo T thuộc trường hợp có công với cách mạng (bà ngoại của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương); bị cáo hiện là sinh viên; bị cáo tích cực tham gia phong trào tình nguyện và phòng chống dịch Covid-19. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo T.
Sau khi bị Công an phát hiện hành vi đánh bạc, bị cáo T đã khai ra bị cáo Hoàng N nên cần cho bị cáo T được hưởng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngoài lần tham gia đánh bạc bị phát hiện vào ngày 23/12/2024, trong quá trình điều tra bị cáo T có khai ra hành vi tham gia đánh bạc vào ngày 05/11/2024 và đây là một trong những căn cứ xác định bị cáo T tham gia đánh bạc nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Với việc khai ra hành vi đánh bạc vào ngày 05/11/2024, thì bị cáo T cũng đã thể hiện tính tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên cân nhắc cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Bản thân bị cáo T là sinh viên của Trường Đại học T3 nên Hội đồng xét xử sẽ lưu ý hoàn cảnh này của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Với hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo Tân như đã nêu ở trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời nhận thấy bản thân bị cáo là sinh viên và có khả năng thi hành hình phạt tiền, cũng như tạo điều kiện cho bị cáo hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân, nên hết sức cân nhắc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền với mức cao nhất của khung hình phạt là đảm bảo sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Điều này cũng thể hiện tính nhân văn của pháp luật.
Để thuận lợi cho việc thi hành án cần cấn trừ số tiền mà bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh vào số tiền xử phạt.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung vào các năm 2021, 2025;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T và sửa bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được cấn trừ vào số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) mà bị cáo T đã nộp (theo Biên lai số 0006279 ngày 17/9/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh). Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2026).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND khu vực 6; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - P. PV06- Công an TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Phòng THADS khu vực 6; (1) - THAHS khu vực 6; (1) - TAND khu vực 6; (2) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (18) (5) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ngọc Thắng |