vanban.org

Bản án 83/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 09/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————
Bản án số: 83/2025/HS-ST
Ngày 09-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Cúc Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tám

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thùy L - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến Đ,sinh ngày 15-10-2002, tại tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ở trước khi bị bắt: Số F đường P, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12

Con ông: Nguyễn Tiến H; Sinh năm: 1974 (Đã chết)

Con bà: Nguyễn Thị T;Sinh năm: 1981

Bị cáo là con thứ 02 (hai) trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 30-8-2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng (theo Quyết định số 218/2023/QĐ-TA).

Bị bắt từ ngày 03-12-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực thành phố V -Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến Đ là người nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03-12-2024, Đ điều khiển xe máy biển số 72C1-731.38 đi xuống khu vực đường T, Phường B, thành phố V gặp một người thanh niên tên S (không rõ nhân thân lai lịch) mua 03 (ba) gói ma túy đá với số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), nhận tiền xong, Sóc giao 03 (ba) gói ma túy cho Đ. Sau đó, Đ điều khiển xe máy biển số 72C1-731.38 mang theo 03 (ba) gói ma túy vào khu vực cảng C, Đường C, Phường A, thành phố V nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 05 phút ngày 03-12-2024, khi Đ đang dừng xe mua chai nước uống tại khu vực cảng C, Đường C, Phường A, thành phố V thì bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 3 – BTL Cảnh sát biển phối hợp Công an phường A, thành phố V phát hiện, bắt quả tang Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 562/KL-KTHS- MT ngày 07-12-2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận:

03 (ba) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt gửi giám định có khối lượng 1,3228 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 03-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố Nguyễn Tiến Đ, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt gửi giám định có khối lượng 1,3228 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo, màu xanh, số IMEI 1: 865652059137051, số IMEI 2: 865652059137044. 01(một)chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA - EXCITER, Biển số: 72C1 731.38; Số máy: G3D4E - 188771; Số khung: RLCUG0610FY175892.

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát và Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả trang,vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11giờ 05 phút ngày 03-12-2024, tại khu vực cảng C, Đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Tiến Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,3228 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 3 – BTL Cảnh sát biển phối hợp với Công an A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt quả tang.

. Bị cáo Nguyễn Tiến Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Số ma túy bị cáo tàng trữ là 1,3228 gam ma túy, loại Methamphetamine nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Mặc dù nhận thức được ma túy không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích để thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện.Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

. Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tích khoan hồng của pháp luật, song vẫn cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với : 03 (ba) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt có khối lượng 1,3228 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo chứa trong 01 (Một) phong bì niêm phong màu trắng số 562 ngày 09-12-2024 có dấu của Phòng K - Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu ViVo, màu xanh, số IMEI 1: 865652059137051, số IMEI 2: 865652059137044, là công cụ bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA - EXCITER, Biển số: 72C1 – 731.38; Số máy: G3D4E - 188771; Số khung: RLCUG0610FY175892, thu giữ của bị cáo, bị cáo khai bị cáo mua lại xe này của người khác. Qua xác minh và đăng tìm chủ sở hữu nhưng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp.Việc sử dụng xe không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

. Đối với người đàn ông tên S bán ma túy cho bị cáo,chưa xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật nên không có căn cứ để xử lý. [9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V các trên,

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 12 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: p dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy:

- 03 (ba) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu- trong suốt có khối lượng 1,3228 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine chứa trong 01 (Một) phong bì niêm phong màu trắng số 562 ngày 09-12-2024 có dấu của Phòng K - Công an tỉnh B.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước : 01(một) điện thoại di động hiệu ViVo, màu xanh, số IMEI 1: 865652059137051, số IMEI 2: 865652059137044.

- Trả lại cho bị cáo :

01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA - EXCITER, Biển số: 72C1 731.38; Số máy: G3D4E - 188771; Số khung: RLCUG0610FY175892.

(Vật chứng đang được quản ý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 104/ BB.CCTHA ngày 07 tháng 3 năm 2025).

3. n phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ