- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị B tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thào Thị B (không có tên gọi khác) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 83/2024/HSST Ngày: 26/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Như Lữ.
2. Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QDXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào Thị B (không có tên gọi khác), sinh năm: 1969 tại tỉnh Yên Bái; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở trước khi bị bắt: Bản C, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: không học; con ông Thào Chà T ( tên gọi khác: Thào Chía T)-(đã chết) và bà Giàng Thị V, sinh năm 1936; Chồng: Giàng A V (đã chết) và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, còn nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Theo bản án số 58/PT ngày 05/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt Thào Thị B 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành án xong ngày 18/7/2018 (đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 03/3/2024 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Thào A H, sinh năm 2000. Trú tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, Thào Thị B đi bộ từ nhà ở bản C, xã K, huyện Đ đến nhà Thào Chù C ở cùng bản mua ma túy sử dụng. Khi đến nhà C, B gặp và trao đổi mua của C 01 gói Heroin được gói trong mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng, sau đó B giấu gói ma túy vào phần bao chân dưới gối rồi đi về nhà. Đến 19 giờ cùng ngày, khi đang đi ở đường quốc lộ thuộc địa phận bản C thì bị tổ công tác công an xã K làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang.
Vất chứng thu giữ gồm: 01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng cân khối lượng, lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 453/KL-KTHS, ngày 01/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Thào Thị Blà 0,29 gam, là ma túy loại Heroine. Hoàn lại 0,24 gam Heroine.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa làm rõ được hành vi của Thào Chù C đã bán ma túy cho bị cáo Thào Thị B do C vắng mặt tại nơi cư trú.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSĐBĐ ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Thào Thị B về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Thào Thị B về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào Thị B từ 14 tháng đến 17 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 0,24 gam Heroine còn lại sau giám định và một mảnh nilon màu trắng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa: người bào chữa cho bị cáo nhất trí với phân tích, đánh giá và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề xuất, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, không bổ sung lời bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Thào Thị B bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Thào Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vào ngày 23/02/2024 tại bản C, xã K, huyện Đ bị cáo đang cất giấu 0,29 gam Heroine trong người nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã K, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/02/2024, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các biên bản ghi lời khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Thào Thị B là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép 0,29 gam Heroine, hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ nên được chấp nhận.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Thào Thị B diễn ra đơn giản, chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm trên địa bàn, ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm minh.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn; là phụ nữ dân tộc, không được học hành, nhận thức pháp luật có hạn chế, bị cáo cũng đã từng bị Tòa án nhân dân xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy (đã xóa án tích) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội bị truy tố như ngày hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.
Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là Thào Chà T được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Như vậy phân tích, đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích tại các mục [1, 2, 3] trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản để thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo đã đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,24 gam Heroine còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và một mảnh nilon màu trắng dùng gói chất ma túy không còn giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa đã đề xuất.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Thào Chù C mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa làm rõ được hành vi của Thào Chù C do vắng mặt tại nơi cư trú. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Thào Thị B (không có tên gọi khác) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Thào Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23/02/2024).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,24 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu trắng.
Vật chứng đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 21/5/2024 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/6/2024).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |