vanban.org

Bản án 83/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B, thành phố Đ; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án tống đạt h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tô Tấn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B, thành phố Đ; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 83/2026/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Nhật L.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lưu Thị Thanh Thảo.

Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 67/QĐ-TA ngày 08 tháng 5 năm 2026, đối với:

Đối với: Tô Tấn T (tên gọi khác: Không) ;

Căn cước công dân : 075097017166

Sinh ngày 05/8/1997. Giới tính: Nam. Trình độ học vấn: 10/12.

Nghề nghiệp: Không.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã L, thành phố Đ.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cứ trú rõ ràng.

Con bà Đặng Thị L1 và ông Tô Ngọc T1.

Tiền án, tiền sự: Không.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Công an xã P, thành phố Đ: Ông Lê Việt N – Phó trưởng Công an xã P, thành phố Đ (Giấy ủy quyền ngày 19/4/2026).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Lưu Thị Hải Anh – Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không.

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không.

5. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an xã P, thành phố Đ lập và diễn biến tại phiên họp thể hiện:

Tô Tấn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2020 đến nay, Tô Tấn T sống lang thang (không có nơi ở rõ ràng). Ngày 18/4/2026 T bị Công an xã P lập biên bản vi phạm hành chính do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được Trạm y tế xã P xác định có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Tại bản tường trình ngày 17/4/2026, T thừa nhận nghiện ma túy và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. T đã được Công an xã P thông báo về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng T có văn bản từ chối đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Ngày 19/4/2026, Công an xã P có văn bản số: 141/CAX đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B, thành phố Đ, địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ thời hạn 22 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp: + Ý kiến của Công an xã P: Tô Tấn Tài nghiện ma túy, hồ sơ đề nghị được lập đầy đủ theo quy định. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B, thành phố Đ, địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ thời hạn 20 tháng đến 24 tháng.

+ Ý kiến của người bị đề nghị: Tô Tấn T có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp và không có ý kiến gì.

+ Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định. Từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Người bị đề nghị được đảm bảo quyền, nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tô Tấn T là người trưởng thành đủ nhận thức về hành vi sử dụng ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Nai chấp nhận đề nghị của Công an xã P, thành phố Đ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện số B, thành phố Đ, thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã P, thành phố Đ đối với Tô Tấn T là đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung 2025.

Tô Tấn T bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2020. Ngày 12/4/2026, T có hành vi sử dụng ma túy và bị Công an xã P lập biên bản vi phạm hành chính, hành vi vi phạm “Là người được xác định nghiện ma tuý của cơ quan có thẩm quyền, Tô Tấn T không có nơi cư trú ổn định”. Tại bản tường trình ngày 17/4/2026, T cũng thừa nhận nghiện ma túy và lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 12/4/2026. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 18/4/2026 của Trạm y tế xã P, tỉnh Đồng Nai xác định Tô Tấn T nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine).

Công an xã P đã thông báo cho T về việc đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nhưng T có văn bản từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Như vậy, Tô Tấn T đã trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện, là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tô Tấn T tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện, không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân người sử dụng mà còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội cũng như các tệ nạn xã hội khác.

Vì vậy, việc đưa người bị đề nghị Tô Tấn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết để T cai nghiện ma tuý, có cơ hội sửa đổi trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Căn cứ vào hồ sơ đã được xác minh rõ, xét thấy việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, thành phố Đ của Công an xã P đối với Tô Tấn T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Căn cứ vào các Điều 95, 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung 2025; khoản 1 Điều 32 luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 12/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Tấn T tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B, thành phố Đ; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định. Công an xã P, thành phố Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã P; Cơ sở cai nghiện ma tuý số B, thành phố Đ có trách nhiệm thi hành quyết định này. Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Người bị áp dụng;

- VKSND Khu vực 2 – Đồng Nai;

- Công an xã Phước Thái;

- Cơ sở cai nghiện số 2, thành phố Đồng Nai;

- Lưu: Hồ sơ

Trần Nhật Lệ

Cỡ chữ