vanban.org

Bản án 83/2026/HS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S, buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 05/6/2025 là 53.

Từ ngày 06/6/2025, bà Nguyễn Thị T tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn theo hợp đồng vay số 101248025 ngày 15/02/2023 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc [2].Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.682.000 đ (Hai triệu sáu trăm tám mươi hai ngàn đồng) bà Nguyễn Thị T phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính Shinhan - Nguyễn Thị Thiệt"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S, buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 05/6/2025 là 53.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83 /2026/HS-ST
Ngày 06/02/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trung Thiêng và ông Ngô Đình Lục

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Tiểu Luận - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 174/2025/TLST-DS ngày 13/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2025/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty S.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 19, Tháp B, khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà cap tần tại lô đất 1-13 thuộc Khu chức năng số 1 - số 15 đường Bạch Đằng, phường An Khánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Chun Yuong ILL. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phùng Minh Đạt. Chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ.

Uỷ quyền lại cho: ông Trần Hoàng Hải (Theo Giấy uỷ quyền số 43/2025/UQ-KK-SVFC ngày 17/7/2025 của Công ty tài chính TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Văn bản uỷ uyền số 24/UQ.2025 ngày 17/7/2025 của Công ty luật TNHH MTV DaNaLaw).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Khối phố Hà Dừa, phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng.

CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 10/07/2021

Nguyễn đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 05/8/2025, quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty S(Sau đây gọi tắt là Công ty Tài chính Shinhan”) và bà Nguyễn Thị T đã ký kết Hợp đồng cho vay số 101248025 ngày 15/02/2023 (Sau đây gọi tắt là “Hợp đồng"). Vào ngày 15/02/2023, Công ty Sđã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T.

Căn cứ các quy định của Hợp đồng, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ phải thanh toán đúng tiến độ theo Lịch trả nợ Lịch trả nợ điều chỉnh và các thông báo nhắc nợ mà Công ty Sgửi tùy từng thời điểm. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Nguyễn Thị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù Công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị T thanh toán nhưng bà Nguyễn Thị T vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính Shinhan.

Công ty Skhởi kiện yeu cầu bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 05/6/2025 là 53.651.209 đồng (Năm mươi ba triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm lẻ chín đồng). Trong đó, nợ gốc là 28.221.647 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.306.570 đồng, lãi quá hạn 9.122.993 đồng.

Từ ngày 06/6/2025, bà Nguyễn Thị T tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn theo hợp đồng vay số 101248025 ngày 15/02/2023 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T:

Ngày 23/10/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho bà Nguyễn Thị T bằng hình thức niêm yết công khai theo quy định.

Hết thời hạn 15 ngày theo quy định tại điều 199 BLTTDS bà Nguyễn Thị T không có văn bản trả lời ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Công ty cũng như văn bản xin gia hạn thời hạn trả lời theo quy định.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà Nguyễn Thị T không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải theo quy định.

Vì vậy Tòa án căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Shinhan, buộc bà Nguyễn Thị T trả cho Công ty Stính đến ngày 05/6/2025 là 53.651.209 đồng (Năm mươi ba triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm lẻ chín đồng). Trong đó, nợ gốc là 28.221.647 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.306.570 đồng, lãi quá hạn 9.122.993 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về tố tụng:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Công ty và bà T.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Vào ngày 15/02/2023 bà Nguyễn Thị T có vay của Công ty Ssố tiền 30.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số 101248025 ngày 15/02/2023. Thời hạn trả nợ chia thành 36 kỳ, lãi suất 38%năm. Sau khi Công ty giải ngân cho bà T thì bà sử dụng số tiền trên và không thanh toán bất kỳ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho công ty từ tháng 5/2023 đến nay. Hiện nay bà T còn nợ Công ty Stính đến ngày 05/6/2025 là 53.651.209 đồng (Năm mươi ba triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm lẻ chín đồng). Trong đó, nợ gốc là 28.221.647 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.306.570 đồng, lãi quá hạn 9.122.993 đồng. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của Công ty Slà hoàn toàn có căn cứ

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 BLTTDS và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự;

Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S, buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 05/6/2025 là 53.651.209 đồng (Năm mươi ba triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm lẻ chín đồng). Trong đó, nợ gốc là 28.221.647 đồng, nợ lãi trong hạn là 16.306.570 đồng, lãi quá hạn 9.122.993 đồng.

Từ ngày 06/6/2025, bà Nguyễn Thị T tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn theo hợp đồng vay số 101248025 ngày 15/02/2023 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc

[2].Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.682.000 đ (Hai triệu sáu trăm tám mươi hai ngàn đồng) bà Nguyễn Thị T phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty Ssố tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.341.000 đồng (Một triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003483 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ