- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU Bản án số: 83/2026/HS-ST Ngày 10-3-2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Quang Minh;
2. Ông Đèo Văn Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2026/TLST-HS, ngày 26 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2026/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29/5/1999, tại tỉnh Lai Châu; số CCCD: 012099003044; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản H, xã K, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lò Văn L, sinh năm 1980; mẹ đẻ: Lò Thị L1, sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2025 đến nay. Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần tại Phân trại Tạm giam P - Trại Tạm giam Công an tỉnh L, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn H là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (M) tại Cơ sở điều trị Methadone - Trung tâm Y tế huyện P, tỉnh Lai Châu, từ ngày 19/11/2024. Khoảng 20 giờ, ngày 26/10/2025, H đi bộ từ nhà ra khu vực ruộng lúa thuộc bản Hợp 1, xã K tìm mua Heroine để sử dụng. Tại đây, H mua được 01 gói Heroine giá 50.000 đồng của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch cụ thể. Mua được H1, H đi vào một ngôi nhà bỏ hoang tại bản Hợp 1, xã K sử dụng hết bằng hình thức hít.
Ngày 30/10/2025, Công an xã K kiểm tra ma túy trong nước tiểu của Lò Văn H, kết quả dương tính.
Tại Bản kết luận giám định số: 3068/KL-KTHS, ngày 01/11/2025, của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Trong nước tiểu của Lò Văn H tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể con người.
Tại bản Cáo trạng số: 80/CT-VKSKV3, ngày 26 tháng 01 năm 2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Không. Về án phí, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lò Văn H đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung các biên bản làm việc, kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Lò Văn H là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (M) tại Cơ sở điều trị Methadone - Trung tâm Y tế huyện P, tỉnh Lai Châu, từ ngày 19/11/2024. Ngày 26/10/2025, tại khu vực bản Hợp 1, xã K, tỉnh Lai Châu, Lò Văn H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về phòng, chống ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy và nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 80/CT-VKSKV3, ngày 26/01/2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo vào ngày 26/10/2025, bị cáo khai không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Không có.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy bị cáo sử dụng hết. 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa ga bị cáo dùng để sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo đã vứt bỏ. Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn H: 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2025.
2. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND khu vực 3 - Lai Châu; - CA tỉnh Lai Châu (CQĐT, THAHS, phân trại tạm giam Phong Thổ); - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu; - Công an xã Khổng Lào; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |