- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về TGGT - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2026/HS-PT Ngày: 25/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung; Ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/5/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 130/2026/TLPT-HS ngày 01/4/2026 đối với bị cáo Tô Thanh H do có kháng cáo của bị cáo Tô Thanh H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Tô Thanh H, sinh năm 1990; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Tô Văn L, sinh năm 1963 (đã chết) và bà: Trương Thị V, sinh năm 1971; nh chị em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là thứ nh t; Có ch ng: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1988 và Con: có 02 con. (Lớn: sinh năm 2012 và nhỏ: sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “C m đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/01/2026 đến nay.Bị cáo Tô Thanh H có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1950 (đã chết); Người đại diện hợp pháp của bị hại: nh Phạm Văn H1, sinh năm 1985 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Tổ dân phố K, phường C, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tô Thanh H có gi y phép lái xe mô tô hạng 1 do Sở G c p ngày 22/11/2016, có giá trị không thời hạn. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/9/2025, Tô Thanh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn đen - đỏ, biển số 98E1-752.95 (thuộc sở hữu của H) đi từ tổ dân phố H, phường C đến thôn L, xã L để n u ăn liên hoan. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đi đến đoạn km45+800 đường Q, thuộc tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh thuộc đoạn đường giao nhau với đường không ưu tiên, có gờ giảm tốc độ; cùng lúc này ông Phạm Văn K điều khiển xe đạp nhãn hiệu VIỆT NHẬT, loại xe QueenBike màu sơn xanh - trắng di chuyển từ đường ngõ (đường không ưu tiên) ra đường Quốc lộ 31 bên phải theo hướng đi của H để đi về nhà nhưng không chú ý quan sát, giảm tốc độ để nhường đường cho phương tiện đi trên đường ưu tiên. Lúc này H điều khiển xe mô tô bằng tay phải, tay trái cầm điện thoại di động, do không chú ý quan sát, không chủ động giảm tốc độ nên đã xảy ra va chạm với ông K, khiến H và ông K ngã, hai phương tiện đổ ra đường. Hậu quả ông K và H bị thương được đưa đi c p cứu tại Trung tâm y tế L1; sau đó do thương tích nặng, ông K được chuyển đi điều trị tại Bệnh viên đa khoa Bắc Ninh số 1 r i tử vong cùng ngày.
Ngay sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả như sau: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km45+800 đường Q, thuộc địa phận tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh. Đoạn đường thẳng được trải sphalt phẳng, ở giữa lòng đường có vạch kẻ sơn nét liền màu trắng giới hạn phần đường xe chạy. Trên trục đường quốc lộ 31, chọn hướng đi từ phường P đến xã L là hướng chuẩn, bên phải và bên trái đường có mương thoát nước có nắp đậy bê tông rộng 1,0m, bên trái lề đường có lề và sân bê tông rộng trung bình 6,5m, mặt đường rộng 8,95m. Chọn mép ngoài kẻ sơn nét liền giới hạn phần đường xe chạy bên phải đường là mép chuẩn, trên lề đường xe chạy bên phải có cột mốc giới trên có ký tự “H8/45” chọn là mốc chuẩn. Hệ thống d u vết cày xước, trượt đứt đoạn trên mặt đường, bám dính vật ch t màu trắng kích thước (6,5x1,1)m ký hiệu số (1), vết lớn nh t rộng 0,02m, vết nhỏ nh t rộng 0,005m hướng từ phường P đến xã L, điểm đầu vết cách mốc chuẩn về phía phường P là 3,7m, cách mép chuẩn là 2,55m, điểm cuối vết kết thúc tại vị trí xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95, cách mép chuẩn 3,1m. Hệ thống d u vết các mảnh vật ch t g m các chiếc dép, thùng catton, túi nilong chứa các con Hàu, bao nilong trên mặt đường kích thước (13,5x2,8)m ký hiệu số (2), điểm đầu vết về phía phường P, cách mốc chuẩn về phía phường P là 5,8m, cách mép chuẩn 3m, điểm đầu vết về phía xã L cách mép chuẩn 2,3m; D u vết vật ch t màu nâu đỏ trên mặt đường dạng vũng bắn đã khô kích thước (0,6x0,23)m ký hiệu số (3), tâm vết cách mốc chuẩn về phía phường P là 4,1m, cách mép chuẩn 3,0m; Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95 dựng trên mặt đường, đầu xe hướng xã L, đuôi xe hướng phường P ký hiệu số (4), tâm trục bánh sau xe cách mốc chuẩn 6,6m về phía xã L, cách mép chuẩn 3,35m, tâm trục bánh trước cách mép chuẩn 4,2m; Hệ thống d u vét cày xước trên mặt đường dạng đứt đoạn kích thước (2,3x0,2)m ký hiệu số (5), vết lớn nh t rộng 0,01m, vết nhỏ nh t rộng 0,005m, hướng từ phường P đến xã L, điểm đầu vết cách mộc chuẩn 2,5m, điểm cuối vết kết thúc tại vị trí xe đạp màu sơn xanh-trắng bị đổ, cách mép chuẩn 1,55m; Xe đạp màu sơn xanh trắng đổ nghiêng trên mặt đường đầu xe hướng phường P, đuôi xe hướng xã L, ký hiệu số (6), tâm trục bánh trước cách mốc chuẩn về phía xã L là 8,0m, cách mép chuẩn 1,55m, tâm trục bánh sau cách tâm trục bánh trước 1,0m, cách mép chuẩn 1,93m. Bên phải đường có nhánh đi hướng đền T, mặt đường trải bê tông rộng 3,8m, đoạn giao nhau với đường Quốc lộ 31 độ mở mặt đường rộng 7,7m, trên có vạch kẻ mắt võng màu sơn vàng. Khu vực đầu đường cách mốc chuẩn về phía đền T1 Tướng Quốc 6,1m, có hệ thống vạch kẻ sơn màu vàng và gờ giảm tốc. Đoạn đường ngoài khi vực đông dân cư. Trên mặt đường Q, cách mốc chuẩn về phía phường P 16,2m có 02 hệ thống vạch giảm tốc màu sơn vàng liên tiếp cách nhau 20,7m. Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95, 01 (một) xe đạp có màu sơn xanh-trắng; 01 mẫu ch t màu nâu đỏ nghi máu.
Cùng ngày 02/9/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm tử thi đối với Phạm Văn K, kết quả chính như sau: Hai lỗ mũi và khoang miệng có máu đông lẫn máu không đông; mặt sau khủy tay trái, 1/3 trước cánh tay trái có diện bầm tím xây sát da kích thước 13x5cm; vùng đỉnh phải và chẩm trái có diện sưng nề, bầm tím, xây sát, rách da kích thước 13x7cm; chính giữa vùng ngực tại vị trí 1/3 trên xương ức có diện tích bầm tím da kích thước 4x3cm; sờ nắm kiểm tra th y gãy xương phức tạp vùng bên xương sườn trái từ 8 đến 10; mặt trong cổ chân, bàn chân trái, có diện tích sưng nề, bầm tím, rách da kích thước 12x8cm, hai vết rách da bờ mép không gọn, sâu đến lớp cơ, có nhiều máu không đông chảy ra; vùng cằm có diện tích bầm tím, trượt da nông kích thước 4x2cm. Quá trình khám nghiệm tử thi Cơ quan điều tra thu giữ mẫu máu tử thi của Phạm Văn K để phục vụ việc giám định.
Ngày 10/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với 01 xe mô tô và 01 xe đạp nêu trên, kết quả: Trên xe đạp nhãn hiệu VIỆT NHẬT, loại xe QueenBike, màu sơn Xanh-Trắng có các d u vết như sau: D u tay nắm bên trái có vết mài trượt nhựa kích thước (0,5x0,5)cm; giá cố định tay phanh bên trái có vết mài trượt nhựa kích thước (1x1)cm theo chiều từ trước về sau; Phía trước góc bên phải giỏ xe có vết mài trượt nhựa theo chiều từ phải sang trái kích thước (10x0,5)cm; Bàn đạp bên phải có vết mài trượt nhựa kích thước (5x2,5)cm; Giá th hàng được hàn trực tiếp vào ba ga phía sau có 02 vết mài trượt nhựa tại phía bên phải có bùn định dạng xi măng kích thước (1,5x1,5)cm; Càng sau phía bên trái bị chùn cong theo chiều đi từ trái sang phải ép sát vào bánh xe phía sau làm cho bánh sau không quay được; Vành xe bánh sau cong vênh biến dạng theo chiều từ trái sang phải; Chắn bùn phía sau cong vênh biến dạng theo chiều từ trái sang phải; Hệ thống phanh hoạt động bình thường. Trên xe mô tô BKS 98E1-752.95 có các d u vết, cụ thể như sau: Mặt nạ có vết mài trượt theo chiều từ trước về phía sau từ phải sang trái kích thước (8x5)cm; Cánh yếm bên phải có vết mài trượt theo chiều từ phải sang trái kích thước (3x5)cm, đầu th p nh t cách mặt đ t 79cm; Ốp bên phải dưới sàn để chân có vết mài trượt theo chiều từ trước về sau kích thước (18x5)cm; Ốp bô có vết mài trượt nhựa m t sơn kích thước (13x3)cm; D u tay nắm bên phải có vết mài trượt nhựa kích thước (1x2)cm; D u tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại, theo chiều từ phải sang trái kích thước (1x1,5)cm; Tại giá để chân bên phải người ng i sau có vết mài trượt kim loại theo chiều từ trước về sau kích thước (5x2)cm; Tại mặt trước gáo gương bên phải có vết mài trượt nhựa theo chiều từ phải sang trái kích thước (3x0,5)cm; Tại chắn bùn phía trước có vết mài trượt nhựa theo chiều từ trước về sau từ phải sang trái kích thước (25x15)cm; Hệ thống phanh hoạt động bình thường.
Ngày 02/9/2025, 09/9/2025, 19/9/2025 Cơ quan điều ra đã ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong, giám định DN, giám định n ng độ c n, ch t ma túy của Phạm Văn K (giám định trên mẫu máu thu tại hiện trường và tử thi của Phạm Văn K) và giám định cơ chế hình thành d u vết trên hiện trường, trên phương tiện, vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường. Kết quả như sau:
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 2667/KLGĐTT-KTHS ngày 01/10/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của của Phạm Văn K do chấn thương ngực kín: Gãy phức tạp xương sườn 8, 9, 10 bên trái; tràn máu khoang lồng ngực trái.
Tại Bản kết luận giám định số HT592.25/PY-XNSH ngày 25/9/2025 kết luận: Mẫu chất màu đỏ nghi máu gửi giám định là máu người; có ADN nhiễm sắc thể thường của 01 nữ giới; không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Phạm Văn K (mẫu máu thu tại hiện trường). Tại Kết luận giám định số 2197/PY-XNĐH ngày 18/9/2025 của V1 –Cục Q kết luận: Không tìm thấy E trong mẫu máu của Phạm Văn K. Không tìm thấy các chất ma tuý như M, 6MAM, Heroin, C, C1, A, M1, MDA, MDMA, MDEA, Ketamin, LSD, THC (cần sa) trong mẫu máu của Phạm Văn K.
Tại Bản kết luận giám định số 2967/KL-KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Dấu vết trùn cong, mài sát sơn, kim loại tại bên trái khung cố định bánh sau, vành bánh sau, ½ trước chắn bún bánh sau của xe đạp, có hướng từ trái sang phải (ảnh số 10 đến 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, bám dính chất màu xanh tại mặt lăn lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95, có hướng từ ngoài và tâm bánh (ảnh số 14,15 bản ảnh khám phương tiện). Dầu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên trái của xe đạp gồm: đầu tay nắm, cố định tay phanh, giá thồ gắn sau và bên phải giò của xe đạp được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên; Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe đạp đ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường, đồng thời tạo nên hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 5 trên hiện trường; Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 752.95 gồm: gương chiếu hậu, đầu tay nắm, đầu tay phanh, bệ để chân trước, để chân sau, ống xả được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 752.95 đ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường, đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1 trên hiện trường. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 752.95 với xe đạp trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải của đường Quốc lộ 31 theo hướng phường P đi xã L. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiếm soát 98E1 - 752.95 chuyển động tiến theo hướng phường P đi xã L va chạm với xe đạp ở phía trước, đầu xe hướng sang bên trái (tính theo chiều chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 752.95), không xác định được xe đạp đang dừng đỗ hay chuyển động. Không xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Ngày 20/11/2025, Cơ quan điều ra đã ra Quyết đinh trưng cầu giám định thương tích của Tô Thanh H. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 367/25//KL-KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B, kết luận: Thương tích đường phẫu thuật 1/3 giữa xương đòn trái, tương ứng đương gãy xương, kích thước 6,2 x 0,1 cm, bờ gọn, màu hồng sẫm, liền sẹo tốt: 2%. Thương tích dưới mắt cá trong trái, cách mắt cá trong chân trái 1,5cm, kích thước (3,8x1)cm, bờ gọn, màu hồng sẫm, liền sẹo tốt. Sẹo kích thước lớn: 2%. Hình ảnh Gãy cũ 1/3 giữa xương đòn trái đã kết hợp xương bằng nẹp vít, can tốt (không ảnh hưởng đến gánh vác): 8%. Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm t n thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ t n thương cơ thể của Tô Thanh H tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).
Ngày 03/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23 và 24/KL-HĐĐGTS cùng ngày 05/12/2025 của Hội đ ng định giá tái sản trong Tố tụng hình sự phường C, tỉnh Bắc Ninh, kết luận: T ng giá trị các bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95 tại thời điểm ngày 02/9/2025 là 580.000 đồng. T ng giá trị các bộ phận hư hỏng của xe đạp nhãn hiệu VIỆT NHẬT, loại xe QueenBike, màu sơn Xanh-Trắng tại thời điểm ngày 02/9/2025 là 370.000 đồng.
Ngày 02/9/2025, Phòng C2 Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra n ng độ c n trong hơi thở của Tô Thanh H, kết quả kiểm tra n ng độ c n trong hơi thở của Tô Thanh H là 0,000mg/L.
Ngày 02/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 02 (hai) file video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông từ hệ thống camera an ninh của gia đình chị Trương Thị H2, sinh năm 1993 và ông Trần Quang M2, sinh năm 1949, cùng trú tại tổ dân phố H, phường C, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 10/11/2025, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành mở niêm phong và xem video thu giữ được tại camera nhà ông M2, chị H2 xác định diễn biến vụ tai nạn như đã nêu ở trên.
Ngày 10/9/2025, Tô Thanh H giao nộp 01 Gi y phép lái xe mô tô hạng A1, mang tên Tô Thanh H; 01 Gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 98E1-752.95 mang tên Tô Thanh H; 01 Gi y chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô BKS 98E1-752.95.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 02/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý đ vật, tài liệu, trả lại 01 (một) xe mô tô BKS98E1-752.95,01 Gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 98E1-752.95, 01 Gi y chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô BKS 98E1-752.95 cho Tô Thanh H; trả lại xe đạp màu sơn X-Trắng cho người đại diện của ông Phạm Văn K là anh Phạm Văn H1. Còn 01 GPLX hạng 1 số 241018241373 mang tên Tô Thanh H chuyển xử lý theo vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Tô Thanh H đã cùng gia đình tự nguyện b i thường cho gia đình nạn nhân Phạm Văn K số tiền 110.000.000 đ ng. Gia đình nạn nhân K đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu b i thường gì thêm, đ ng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tô Thanh H. Tô Thanh H không yêu cầu ai phải b i thường gì.
Cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Tô Thanh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Thanh H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 27/01/2026, bị cáo Tô Thanh H nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo và trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của minh như án sơ thẩm tuyên là đúng, tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn, hai bên gia đình đã giải quyết tình cảm. Ngoài ra, hoàn cảnh gia đình bị cáo cũng gặp nhiều khó khăn, hiện nay bị cáo đang mắc bệnh Nhiễm độc cường giáp, bị cáo đang mang thai và đang nuôi dưỡng con nhỏ 9 tuổi, bị cáo đề nghị được hưởng án treo. Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính ch t mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các v n đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đ ng xét xử: Ch p nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo của bị cáo do phát sinh tình tiết mới. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Tô Thanh H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Các Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Tô Thanh H 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/5/2026.
Giao bị cáo Tô Thanh H cho UBND phường C, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đ ng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc con và bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Tô Thanh H có kháng cáo hợp lệ nên được ch p nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai người đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các biên bản làm việc, biên bản xác minh, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 02/9/2025, Tô Thanh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn Đen - Đỏ, biển số 98E1-752.95 đi đến km45+800 đường Q, thuộc TDP H, phường C, tỉnh Bắc Ninh là đoạn đường giao nhau, có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (có gờ giảm tốc) đã không chú ý quan sát, không chủ động giảm tốc độ dẫn tới va chạm với xe đạp do ông K điều khiển đi từ đường nhánh đi ra Quốc lộ C. Hậu quả ông K tử vong; H bị thương với tỷ lệ tổn thương có thể là 12%; xe mô tô biển kiểm soát 98E1-752.95 bị thiệt hại trị giá 580.000 đ ng; xe đạp bị thiệt hại trị giá 370.000 đ ng.
Do vậy Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã xét xử bị cáo Tô Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần thiết phải xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Tô Thanh H th y:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã tự nguyện b i thường 110.000.000đ cho gia đình bị hại. Bị hại cũng có một phần lỗi do khi tham gia giao thông đến đoạn đường giao nhau không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên; Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đ ng thời, bị cáo đang mang thai và đang nuôi dưỡng con nhỏ 9 tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra hoàn cảnh gia đình bị cáo cũng gặp nhiều khó khăn, hiện nay bị cáo đang mắc bệnh Nhiễm độc cường giáp. Căn cứ vào Nghị quyết số 03/VBHN-T NDTC ngày 10/7/2025 của Hội đ ng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì th y bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng x u đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội do đó, không cần buộc bị cáo phải ch p hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan h ng của pháp luật; Đ ng thời, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giảm sát, giáo dục cũng đủ nghiêm để giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được ch p nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Tô Thanh H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Các Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hình phạt:
Xử phạt: Tô Thanh H 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/5/2026.
Giao bị cáo Tô Thanh H cho UBND phường C, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Tô Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - C , VKS, T khu vực 5 - Bắc Ninh; - Thi hành án tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Bình |