vanban.org

Bản án 83/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 08/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, T từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Các vấn đề khác: Không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, T từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HSST
Ngày 08/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Kim Dung.

- Bà Nguyễn Anh Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai “Xét xử trực tuyến” vụ án hình sự thụ lý số: 67/TLST - HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST

- HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 2001; Giới T: Nam; HKTT: xóm Lương Cao, xã Lạc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.; chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn Lâm, sinh năm 1977 con bà Bùi Thị Hung, sinh năm 1978; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; theo Danh chỉ bản số 622 do Công an quận H lập ngày 22/12/2024.

Bị bắt quả tang ngày 15/12/2024, tạm giữ ngày 16/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bào chữa: Bà Hồ Bích Phương – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tổ công tác Y17B141H Công an quận H, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang tại đường Đỗ Mười, phường Yên Sở, quận H, Hà Nội đối với Bùi Văn T. Qua kiểm tra, thu giữ bên trong túi áo khoác bên trái của T 01 gói giấy màu trắng, kích thước (01x01)cm, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai gói nhỏ trên là ma túy loại heroin, T mua để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Ngoài ra, thu giữ của T 01 xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696. Sau đó, đã đưa T cùng tang vật thu giữ về trụ sở Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Vật chứng của vụ án: Thu của Bùi Văn T 01 gói giấy màu trắng, kích thước (01x01)cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy nên T đã đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 15/12/2024, T đi xe máy đến khu vực ngã ba Yên Duyên – đê Hữu Hồng, tổ 9 phường Yên Sở, quận H, thành phố Hà Nội. Tại đây, T gặp một người nam giới không quen biết và mua của anh ta 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy trên tay đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến đường Đỗ Mười, phường Yên Sở, quận H, Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra và bắt quả tang.

Kết quả giám định ma túy đối với Bùi Văn T: Dương T

Kết luận giám định số 8854/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại heroin, khối lượng: 0,152 gam .

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với đối tượng bán ma túy cho T (theo lời khai của T) nhưng không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696 thu giữ của Bùi Văn T, quá trình xác minh xác định là của Bùi Văn T, hiện đang nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự quận H để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, bị can Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS-HM, ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

[2] Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.

Người bào chữa của bị cáo gửi bản bào chữa, cũng thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên trông quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất thể hiện sự khoan hồng của nhà nước và đề nghị trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy vì đây là phương tiện duy nhất của bị cáo để đi lao động.

Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Xử phạt: bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,152 gam Heroin.

- Trả lại cho bị cáo 01 xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696

[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo; người bào chữa thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không tranh luận với Kiểm sát viên.

[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ, niêm phong và mở niêm phong tang vật; Quyết định trưng cầu giám định xác định khối lượng, loại ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H, Thành phố Hà Nội; Kết luận giám định số 8854/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tổ công tác Y17B141H Công an quận H, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang tại tại đường Đỗ Mười, phường Yên Sở, quận H, Hà Nội, Bùi Văn T tàng trữ trái phép 0,152 gam ma túy loại heroine mục đích để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy này do bị cáo mua của một nam giới không quen biết với giá 400.000 đồng. Khi bị cáo cầm gói ma túy trên tay đi tìm nơi sử dụng và đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Y17B141H Công an quận H, Thành phố Hà Nội kiểm tra bắt quả tang và lập biên bản thu giữ tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về T chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo có T chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Xác định hành vi của bị cáo là tội phạm nghiêm trọng; khối lượng ma túy bị cáo Tàng trữ là Heroin có khối lượng 0,152 gam. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người; đồng thời là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo trước khi phạm tội lần này chưa có tiền án, tiền sự;

Tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều nhận tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Đối với tội phạm về ma túy, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Đối với Bao niêm phong bên trong chứa 0,152 gam Heroin; là tang vật của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; đối với 01 xe máy Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696 là phương tiện duy nhất để đi lao động của bị cáo; do vậy khi giải quyết cần căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định, cần:

- Tịch thu tiêu hủy: Bao niêm phong bên trong chứa 0,152 gam Heroin;

- Trả lại cho bị cáo 01 xe máy Yamaha Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696;

Các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xác định được danh T, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý, là có cơ sở.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, 136, 298, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, T từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Các vấn đề khác: Không xét.

3. Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: Bao niêm phong bên trong chứa 0,152 gam Heroin;

- Trả lại bị cáo Bùi Văn T 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha kiểu dáng Exciter BKS 23B1-471.15, số khung RLCUG1010JY027259, số máy G3D4E792696, đã qua sử dụng;

Toàn bộ vật chứng nêu trên, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố Hà Nội, theo Phiếu nhập kho vật chứng, tài sản số NK2025-0106, ngày 10/3/2025.

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ