vanban.org

Bản án 83/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 25/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Quách Hải A 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi thành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Hải A - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HSST
Ngày: 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Thưởng

2. Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc An Chi – Thư ký Tòa án quận Tây Hồ, thành

phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huế - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2025/TL ST - HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST - HS ngày 20/6/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quách Hải A, sinh năm: 1998, tại H; ĐKTT: làng Y, phường P, quận T, thành phố H; Nơi cư trú: phường N, quận L, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Quốc P1 và bà Ngân Thị H1; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 474 ngày 31/12/2024 của Công an quận Tây Hồ lập, Lý lịch địa phương và trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an thành phố Hà Nội cung cấp thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025. Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 12/2024, Quách Hải A nảy sinh ý định mua ma túy về để bán lại kiếm lời. Hải A lên mạng xã hội Telegram hỏi và mua của người đàn ông không quen biết trên mạng 9.500.000 đồng ma túy loại Cần sa. Sau khi mua được ma túy, Hải A mang về chia nhỏ thành nhiều túi để nếu có ai mua thì bán.

Khoảng tối ngày 22/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy cần sa, Trần Khánh H2 nhắn tin cho Trần Khánh A1 (sinh ngày 21/4/2007; Địa chỉ: phường X, quận Đ, thành phố H) nhờ A qua đón và chở H2 đến 262 Vũ M, P, T, H nhưng không nói cho A1 biết H2 đến đó để mua ma túy. A1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát xx đến đón và chở H2 đến quán cà phê 262 Vũ M, P, T, H. H2 đi vào bên trong cửa hàng, A1 ngồi ngoài đợi. Tại đây, H2 gặp và hỏi mua của Quách Hải A (tên gọi khác là Phệ) 300.000 đồng ma túy loại Cần sa. H2 đưa tiền cho Hải A và Hải A đưa lại cho H2 01 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô. Sau khi mua được ma túy, H2 cất túi nilong chứa cần sa vào túi đeo chéo, màu ghi đang đeo rồi cùng A1 mang đồ ăn cho khách. Đến 21 giờ 50 phút ngày 22/12/2024, khi H2 và A1 đi đến khu vực số 10 đường K, phường K, T, H thì bị Tổ công tác 141H kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Trần Khánh H2 đã tự nguyện lấy từ trong túi đeo chéo màu ghi H2 đang đeo ra 01 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô giao nộp cho tổ công tác. H2 khai là ma túy mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa H2, A1 cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

-Thu giữ của Trần Khánh H2: 01 túi đeo chéo, màu ghi đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 gói giấy màu vàng có in chữ RAW.

-Thu giữ của Trần Khánh A1 01 xe máy honda Wave biển kiểm soát xx màu đen đã qua sử dụng.

-Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quách Hải A, thu giữ: 240 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô; 02 cân điện tử đã qua sử dụng; 01 cối xay hình trụ tròn đã qua sử dụng; 500 túi nilong chưa qua sử dụng; 01 gói giấy màu vàng có in chữ RAW và 01 điện thoại di động iphone đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận số 06/KL- KTHS ngày 01/01/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội, kết luận:

“ - Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong thu giữ của Trần Khánh H2 là cần sa, khối lượng 0, 866 gam.

- Thảo mộc khô bên trong 240 túi nilong thu giữ của Quách Hải A là ma túy loại cần sa, khối lượng 218, 124 gam.

+ 02 cân điện tử, 01 cối xay hình trụ tròn đều dính ma túy cần sa.”

Đối với đối tượng bán ma túy cho Quách Hải A: Hải A không biết tên, tuổi, đị chỉa, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Đối với Trần Khánh A1: A1 khai không biết việc H2 cất giấu ma túy trong người để sử dụng nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát xx thu giữ của Trần Khánh A1: Cơ quan cảnh sát điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Sơn T1 (sinh năm 1991; ĐKTT: phường B, quận Đ, thành phố H). Anh T1 khai chiếc xe máy trên anh mua khoảng tháng 5/2025 để sử dụng. Ngày 22/12/2024, A1 (là em vợ) mượn bảo đi có việc, anh không biết việc A1 liên quan đến việc mua bán ma túy. Kết luận giám định số khung, số máy của chiếc xe trên là số nguyên thủy. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 20/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 7525 QĐ - CSMT và trao trả chiếc xe máy trên cho anh T1. Anh T1 đã nhận lại tài sản cùng ngày và không có yêu cầu gì.

Bản cáo trạng số 36/CT - VKSTH ngày 29 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Quách Hải A về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015; Truy tố bị cáo Trần Khánh H2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa ngày 16/5/2025, Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ vụ án còn thiếu các chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Trần Khánh H2 mà không thể bổ sung được tại phiên tòa, nên đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 03/2025/HSST - QĐ.

Ngày 19/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 26912/QĐ - CSMT ngày 19/6/2025 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Trần Khánh H2 để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Bản cáo trạng số 78a/CT - VKSTH ngày 10 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Quách Hải A về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Quách Hải A khai nhận hành vi như tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Quách Hải A đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự nên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng.

Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Áp dụng Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án, đề nghị:

-Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Quách Hải A từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

- Về vật chứng: Đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy gồm:

+01 hộp niêm phong hình chữ nhật, màu xanh, được dán giấy niêm phong có chữ ký của Quách Hải A, cán bộ niêm phong Nguyễn Văn T2, Vũ Minh P1, điều tra viên Đỗ Quang T3 và giám định viên Nguyễn Thị P2; có đóng dấu của Cơ quan điều tra (Bên trong là tang vật còn lại sau giám định);

+ 500 túi nilong chưa qua sử dụng;

+ 01 gói giấy màu vàng có in chữ RAW;

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động iphone đã qua sử dụng thu giữ của Quách Hải A.

-Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi và tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù với lời khai tại cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản nhận dạng; Bản kết luận giám định; Lời khai của Trần Khánh H1; Lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng giữa tháng 12/2024, qua mạng xã hội Telegram, Quách Hải A đã hỏi và mua của một người đàn ông không quen biết 9.500.000 đồng ma túy loại Cần sa. Sau khi mua được ma túy, Hải A mang về chia nhỏ thành nhiều túi để nếu có ai mua thì bán lại kiếm lời. Đến tối ngày 22/12/2024, tại 262 Vũ M, P, T, H, Hải A đã bán cho Trần Khánh H1 0, 866 gam ma túy loại Cần Sa với giá 300.000 đồng. Khám xét nơi ở của Quách Hải A (Địa chỉ: số 262 Vũ M, P, T, H), Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 218,124 gam ma túy loại Cần sa, Hải Anh cất giấu để nếu có ai mua thì sẽ bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo Quách Hải A đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Quách Hải Anh về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được bộ luật Hình sự bảo vệ; làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác; gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV - AIDS. Căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Vể tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đều không có công việc và thu nhập, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Quách Hải A số tiền 300.000 đồng bị cáo đã thu lợi bất chính nộp vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 hộp niêm phong hình chữ nhật, màu xanh, được dán giấy niêm phong có chữ ký của Quách Hải A, cán bộ niêm phong Nguyễn Văn T2, Vũ Minh P1, điều tra viên Đỗ Quang T3 và giám định viên Nguyễn Thị P2; có đóng dấu của Cơ quan điều tra (Bên trong là tang vật còn lại sau giám định); 500 túi nilong chưa qua sử dụng và 01 gói giấy màu vàng có in chữ RAW, chưa qua sử dụng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động iphone đã qua sử dụng, không kiểm tra imel thu giữ của Quách Hải A.

- Đối với 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, tại các mép dán có chữ ký của Trần Khánh H1 và các thành phần tham gia niêm phong tại Biên bản đóng gói, niêm phong ngày 23/12/2024; có đóng dấu tròn của Cơ quan điều tra (Bên trong là tang vật còn lại sau giám định); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, đã qua sử dụng; 01 túi đeo chéo màu ghi; 01 gói giấy vàng có in chữ RAW chưa qua sử dụng thu giữ của Trần Khánh H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách vụ án và vật chứng để tiếp tục giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29BA- 03559 thu giữ của Trần Khánh A1: Cơ quan cảnh sát điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Sơn T1. Anh T1 và A1 đều có lời khai thống nhất thể hiện không biết việc H2 mua ma túy. Kết luận giám định số khung, số máy của chiếc xe trên là số nguyên thủy. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 20/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 7525 QĐ

- CSMT và trao trả chiếc xe máy trên cho anh T1. Anh T1 đã nhận lại tài sản cùng ngày và không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với Trần Khánh H1: Ngày 19/6/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của Trần Khánh H1 để tiếp tục điều tra, làm rõ, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết.

Đối với Trần Khánh A1: A1 và H2 đều có lời khai thống nhất thể hiện A1 không biết việc H2 mua ma túy, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với A1 là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Hải A: Hải A không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, nơi làm việc. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Quách Hải A 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi thành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Truy thu của bị cáo Quách Hải Anh số tiền 300.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 hộp niêm phong hình chữ nhật, màu xanh, được dán giấy niêm phong có chữ ký của Quách Hải A, cán bộ niêm phong Nguyễn Văn T2, Vũ Minh P1, điều tra viên Đỗ Quang T3 và giám định viên Nguyễn Thị P2; có đóng dấu của Cơ quan điều tra (Bên trong là tang vật còn lại sau giám định); 500 túi nilong chưa qua sử dụng và 01 gói giấy màu vàng có in chữ RAW, chưa qua sử dụng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động iphone đã qua sử dụng, không kiểm tra imel thu giữ của Quách Hải A.

(Tang vật có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2025).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Quách Hải A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ