- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Mạnh Linh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Dương Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2025/HS-ST Ngày 28 – 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Quyền.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hồ Thị Lan và ông Nguyễn Đăng Cường.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đồng Đức Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Mạnh L; sinh ngày: 29/5/1989, tại Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ I, khu Y, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thế V và bà Nguyễn Thị O; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 03/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Ngọc G; sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ A, khu G, phường C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Vũ Quang T; sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ F, khu Y, phường H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tất T1; sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ A, khu Y, phường H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Mạnh L và Nguyễn Ngọc G (sinh năm 1993, trú tại tổ A, khu G, phường C, tỉnh Quảng Ninh) có mối quan hệ quen biết nhau. Trong quá trình giao tiếp với nhau, L biết G có ma túy “đá” bán nên khoảng 11 giờ ngày 03/7/2025, L đến nhà G gặp và mua của G 01 túi ma tuý đá, với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Sau khi thỏa thuận xong L chuyển số tiền 700.000 đồng từ số tài khoản 2905198956789 của L mở tại ngân hàng M1 đến số tài khoản ZaloPay 0705776865 của G để trả tiền mua ma túy, rồi cầm túi ma túy đá vừa mua của G về nhà mục đích để sử dụng. Đến 12 giờ 10 phút ngày cùng, L đi đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ I, khu Y, phường H, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang; thu giữ: tại túi quần bên phải phía trước của L có 01 túi nilon kích thước (2x2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max kèm 01 sim.
Tại bản Kết luận giám định số 866/KL-KTHS ngày 07/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể màu trắng thu của L là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,237 gam (không phẩy hai ba bẩy gam).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Dương Mạnh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên và khai nhận thêm: L sử dụng ma tuý đá từ khoảng đầu năm 2023, đây là lần đầu tiên L mua ma tuý của G, ngoài ra không còn lần nào khác. Chiếc điện thoại mà L bị Cơ quan Công an thu giữ L đã sử dụng để thanh toán tiền mua ma túy qua hình thức chuyển khoản cho G.
Tại giai đoạn điều tra: người làm chứng, Nguyễn Ngọc G khai phù hợp với lời khai của L về thời gian, địa điểm, cách thức, số lần G bán ma túy cho L, phù hợp với nội dung vụ án. Những người chứng kiến nêu trên đều có lời khai về toàn bộ nội dung sự việc mình đã trực tiếp chứng kiến Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo tàng trữ ma túy trên người thì bị bắt, thu giữ những vật chứng và tài sản nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 5823/CT-VKSKV1 ngày 15 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh đã truy tố bị can Dương Mạnh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Dương Mạnh L từ 36 (ba mươi sáu) đến 39 (ba mươi chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 03/7/2025); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng: các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 866/KL-KTHS, ngày 07/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 sim điện thoại (số thuê bao 0378.517.892). Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Dương Mạnh L.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, không sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hồi 12 giờ 10 phút ngày 03/7/2025, tại đoạn đường dân sinh thuộc thuộc tổ I, khu Y, phường H, tỉnh Quảng Ninh, Dương Mạnh L có hành vi tàng trữ trái phép 0,237 gam (không phẩy hai ba bảy gam) ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội) đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố. [3]. Điều 249 Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Methamphetamine là chất ma túy rất độc hại, bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây hại đến sức khỏe về thể chất và tinh thần, làm giảm sút về kinh tế của người sử dụng, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng ma tuý bị cáo đã tàng trữ, Hội đồng xét xử thấy: cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích; phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 866/KL-KTHS, ngày 07/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 sim điện thoại (số thuê bao 0378.517.892) thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với Nguyễn Ngọc G có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với G, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Quyết định khởi tố vụ án số 462/QĐ-CSMT ngày 22/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q). Hiện Nguyễn Ngọc G đang được điều tra làm rõ, xử lý bằng một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự) của Quốc hội:
Tuyên bố: bị cáo Dương Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Mạnh L 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 03/7/2025).
2. Căn cứ vào: các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 866/KL-KTHS, ngày 07/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 sim điện thoại đã thu giữ của Dương Mạnh L. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 14 Pro Max) màu tím, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Dương Mạnh L.
Tình trạng những vật chứng, tài sản nêu trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 78/BB-THA/KV1 lập ngày 16/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Quảng Ninh.
3. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: buộc bị cáo Dương Mạnh L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Khu vực 1 – Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Quảng Ninh; - Phòng THADS Khu vực 1 – Quảng Ninh; - THADS tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ; Lưu TA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyền |