- Tranh chấp gì? án hình sự — "VVH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo VVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2024/HSST Ngày: 27-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Toàn
Ông Trần Ngọc Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng; Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
VVH, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1972 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 36/151 đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông D (đã chết) và bà E, có vợ là F, sinh năm 1974; có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 13/3/2024, chuyển tạm giam ngày 15/3/2024; có mặt.
Người chứng kiến: Ông NCK.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 12 giờ ngày 13/3/2024 VVH một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M1-4366 từ nhà đến khu vực đường tàu G, quận H, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, VVH gặp hai người đàn ông không quen biết, hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine. Hai người đàn ông trên đồng ý, nhận tiền và dẫn VVH đến khu vực đường bờ mương I, quận H, thành phố Hải Phòng rồi bảo VVH đứng đợi. Hai người này đi vào trong ngõ một lúc quay ra đưa cho VVH 01 gói giấy màu trắng trong chứa chất bột dạng cục màu trắng là ma túy. VVH cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, điều khiển xe về khu vực phường K, quận C, thành phố Hải Phòng để mua 02 lọ nước cất và 03 bơm kim tiêm, cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc để làm dụng cụ sử dụng ma tuý rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến trước số 2C148 K thì VVH bị lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay trái của VVH đang cầm 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (nghi ma túy), thu trong túi quần bên phải của VVH 02 lọ nước cất, 03 bơm kim tiêm. Lực lượng Công an đã đưa VVH cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu của VVH dương tính với chất ma túy MOP.
Tại Kết luận giám định số 294/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng, kết luận: “chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,10 gam, loại Heroine”.
Tại Cơ quan điều tra VVH khai nhận hành vi như nội dung trên. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 bì thư có dấu niêm phong số 294MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 02 (hai) lọ nước cất, 03 (ba) bơm kim tiêm đều chưa qua sử dụng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16M1-4366 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là chị J, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số 37/151 đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (chị gái VVH). Việc VVH đi mua ma túy chị J không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị J.
Tại Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSHB ngày 06/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo VVH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo VVH với mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng, 03 (ba) bơm kim tiêm và 02 (hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16M1-4366 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là chị J, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số 37/151 đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (chị gái VVH). Việc VVH đi mua ma túy chị J không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị J nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của người chứng kiến:
Người chứng kiến ông NCK đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của người chứng kiến. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh của vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo VVH đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 13/3/2024, tại khu vực trước số 2C148 phường K, quận C, thành phố Hải Phòng, VVH có hành vi cất giấu trái phép 0,10 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Cơ quan công an bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 13/3/2024), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng, 03 (ba) bơm kim tiêm và 02 (hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng.
- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16M1-4366 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là chị J, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số 37/151 đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (chị gái VVH). Việc VVH đi mua ma túy chị J không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị J nên không xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Bị cáo VVH phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo VVH được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này:
Đối với hai người đàn ông đã bán ma túy cho VVH tại khu vực đường bờ mương I, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo VVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: VVH 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng, 03 (ba) bơm kim tiêm và 02 (hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo VVH phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo VVH được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hồng Bàng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |