- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2024/HSST Ngày 20/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/HSST-QĐ ngày 06/05/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Trần Anh T, Sinh năm: 1994; Tên gọi khác: Không; HKTT: 20A35 Khu TT X, Phường S, quận L, Thành phố Hải Phòng; Nơi ở: số 48 ngách B Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Thành M, sinh năm: 1970; Họ và tên mẹ: Trần Thị Thúy H, sinh năm: 1968; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo có 01 con sinh năm 2019. Danh chỉ bản số 478 lập ngày 08/01/2024 tại Công an quận Ba Đình.
Tiền án, tiền sự:
* Tiền sự: 02 tiền sự ngoài thời hiệu
- Năm 2012, Công an quận Thanh Xuân xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Năm 2021, Công an quận Ba Đình xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
* Tiền án: 01 tiền án
Bản án số 270 ngày 03/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Giết người (phạm tội ngày 11/8/2013), buộc bồi thường cho bị hại số tiền 83.838.000 đồng và buộc bồi thường cho con của bị hại số tiền 8.600.000 đồng, bồi thường tiền cấp dưỡng cho con của bị hại số tiền 400.000 đồng/tháng; phải thi hành án phí HSST 200.000 và án phí DSST 4.621.900 đồng.
Bản án số 547 ngày 20/11/2014, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Anh T 06 năm tù về tội Giết người, giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm. Ra trại ngày 07/02/2018.
Xác minh tại Chi cục THA DS quận Tây Hồ: T đã thi hành khoản án phí HSST 200.000 đồng ngày 29/3/2016 và thi hành khoản án phí DSST 4.621.900 đồng ngày 02/12/2016. Xác minh tại Chi cục THA DS thành phố Hà Nội: đối với khoản bồi thường cho bị hại, các bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án.
Do vậy, xác định tiền án trên của bị cáo T đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an Thành phố Hà Nội,
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 28/12/2023, tại địa chỉ số 48 ngách B Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Ngọc Hà kiểm tra hành chính tại phòng trọ N5 của Nguyễn Trần Anh T. Qua kiểm tra, đã phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 01 túi nilon màu trắng kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy “đá” để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở để làm rõ . Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, cơ quan Công an còn thu giữ của T:
- 01 Điện thoại di động Iphone 8 màu đỏ, vỏ ngoài vỡ đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0869055356;
- 01 Điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0876941234.
Bản kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,204 gam./.”
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trần Anh T khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 27/12/2023, tại khu vực đầu ngõ 279 Đội Cấn, Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, T gặp và mua 01 túi ma túy “đá” của 01 người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng. T mang ma túy về nhà tại địa chỉ số 48 ngách B Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội để sử dụng. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 28/12/2023, tổ công tác Công an phường Ngọc Hà kiểm tra tạm trú tại khu nhà trọ của T. Do lo sợ, T tự giao nộp 01 túi ma túy cho tổ công tác.
Lời khai của Nguyễn Trần Anh T phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma tuý, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối tượng bán ma tuý cho Nguyễn Trần Anh T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác định được để xử lý.
Tại cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 15/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trần Anh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy“ theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Anh T từ 20 đến 26 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 46 Bộ luật Hình sự; Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,204 gam ma túy thu giữ; Hoàn trả cho bị cáo: 01 Điện thoại di động Iphone 8 màu đỏ, vỏ ngoài vỡ đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0869055356; 01 Điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0876941234
Bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự ; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trần Anh T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 28/12/2023, tại số 48 ngách B Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Trần Anh T đã tàng trữ trái phép 0,204 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, bị tổ công tác Công an phường Ngọc Hà bắt quả tang cùng vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Trần Anh T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện của mình đã vi phạm pháp luật do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo tương đối thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,204 gam ma túy loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
Trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 màu đỏ đã cũ, vỏ ngoài vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong, số sim 0869055356; imei: 354837092466199.
01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong, số sim 0876941234, imei: 356550107792727.
. Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Anh T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,204 gam ma túy loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
Trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 màu đỏ đã cũ, vỏ ngoài vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong, số sim 0869055356; imei: 354837092466199.
01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong, số sim 0876941234, imei: 356550107792727.
(Vật chứng của vụ án hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao vật chứng số 141 ngày 17 tháng 05 năm 2024).
4. Về án phí :
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND quận Ba Đình; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoài Phương |