vanban.org

Bản án 83/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1 phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q 01 (một) năm tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, Phạt bổ sung bị cáo phải nộp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước. Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Đ 01 (một) năm tù nhưng xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1 phạm tội “ Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật TTHS
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS - ST
Ngày: 28 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:ông Nguyễn Thế Long và ông Nguyễn Thành Lam

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Tuyết Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: ông Đinh Ngọc Mạnh – Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bảo Q, Sinh năm 1986; tại: Đồng Nai. CCCD số: 075086021988; Nơi cư trú: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;Tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956 và con bà Phạm Thị N, sinh năm 1957. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 14/01/2024. Thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/01/2024.

2. Đinh Ngọc Đ, sinh năm 1981; tại: Đồng Nai. Căn cước công dân số: 0750930211711; Nơi cư trú: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: làm thuê; Giới tính: Nam; Học vấn: 5/12; con ông Đinh Văn H1, sinh năm 1946 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1949. Bị cáo có vợ Lại Thị Thanh T, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt ngày 14/01/2024. Thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/01/2024.

3. Đinh Tuấn V, Sinh năm 1993; tại: Đồng Nai. CCCD số: 0750930211711; Nơi cư trú: 112/5 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tài xế; Học vấn: 10/12. Con ông: Đinh Xuân K, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965. Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình, bị cáo có vợ tên Nguyễn Ngọc Q1, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt ngày 14/01/2024. Thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/01/2024.

4. Đỗ Huy K1 - Sinh năm 1980; tại: Đồng Nai; CCCD số: 075080012656. Nơi cư trú: ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: làm thuê; Học vấn: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông: Đỗ Văn G, sinh năm 1953 và con bà Nguyễn Thị Xuân M, sinh năm 1953 bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Thu T1, sinh năm 1991 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt ngày 14/01/2024. Thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/01/2024. (Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, tại khu đất phía sau nhà Đỗ Huy K1 thuộc ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 và Đinh Ngọc Đ có hành vi đánh bạc dưới hình thức “Đá gà” ngoài ra có một số đối tượng bỏ chạy thoát.

Đến 13 giờ cùng ngày, biết hành vi đánh bạc của mình đã bị phát hiện nên Đinh Tuấn V đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 02 con gà đá; 02 cặp cựa sắt, 01 cân đồng hồ loại 05kg; 02 xe mô tô biển số 60B7-543.97, 60B8-209.94; thu trên người Đinh Ngọc Đ số tiền 2.350.000 đồng, thu của Nguyễn Bảo Q số tiền 245.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung màu xám.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Vào sáng ngày 14/01/2024, Nguyễn Bảo Q đến gặp Đỗ Huy K1 và nói K1 cho thuê miếng đất phía sau nhà K1 tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai để tổ chức đá gà ăn tiền và hứa sẽ trả cho K1 mỗi trận đá gà 100.000 đồng và K1 đồng ý. Q làm trọng tài để thu tiền xâu mỗi trận đá gà từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng. Tổng cộng, Q đã tổ chức đá 03 trận gà, cụ thể:

+ Trận gà thứ nhất: gà điều của Đ đá với gà bướm của V, thỏa thuận tiền cá cược “xổ” mỗi bên 2.500.000 đồng, trong đó gà của Đ chấp ăn 75 (nếu gà của Đ thắng sẽ thắng số tiền 1.875.000 đồng, nếu thua sẽ thua hết số tiền 2.500.000 đồng). Ngoài ra Đ và đối tượng tên T2 góp số tiền 500.000 đồng (Đ góp 100.000 đồng, T2 góp 400.000 đồng) để cá cược thêm với một đối tượng tên V1. Kết quả gà điều của Đ thua nên Đ thua số tiền 2.600.000 đồng. Trận gà này Q thu số tiền xâu 200.000 đồng.

+ Trận gà thứ hai: gà cú của Vũ đá với gà điều của Đ, thỏa thuận tiền cá cược “xổ” mỗi bên 3.000.000 đồng. V và một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng (trong đó Vũ góp số tiền 2.500.000 đồng). Kết quả gà điều của Đ thắng nên Đ thắng số tiền 3.000.000 đồng. Trận này Q thu số tiền xâu 250.000 đồng.

+ Trận gà thứ ba: gà điều của Đ đá với gà điều của đối tượng tên T3, thỏa thuận tiền cá cược “xổ” mỗi bên 1.000.000 đồng. Trận gà này K1 làm trọng tài, Quốc góp với T3 500.000 đồng. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị bắt quả tang.

Tổng cộng Q đã thu được số tiền xâu 450.000 đồng và trả tiền thuê địa điểm cho K1 số tiền 200.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

+ 02 con gà đá đã chết, 02 cặp cựa sắt, 01 cân đồng hồ loại 05kg cơ quan điều tra thu tại hiện trường.

Đối với số tiền 2.350.000 đồng của Đinh Ngọc Đ sử dụng vào việc đánh bạc; số tiền 250.000 đồng thu giữ của Nguyễn Bảo Q (trong đó 245.000 đồng bắt quả tang và 5.000 đồng Quốc tự giao nộp) và số tiền 200.000 đồng do Đỗ Huy K1 tự giao nộp do các bị cáo thu lợi từ việc đánh bạc.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám của Nguyễn Bảo Q là phương tiện bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc.

Đối với các xe mô tô biển kiểm soát 60B7-7543.97 và 60B8-209.94 có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho chủ sở hữu. Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 , Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 50/CT.VKS – TN ngày 17/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 , Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ về tội “đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 , Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ về tội “đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1,3 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1.

+ Đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q, mức án từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách của bị cáo gấp đôi, đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Đề nghị phạt bị cáo Đỗ Huy K1, mức án từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách của bị cáo gấp đôi, miễn áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo.

Đề nghị phạt bị cáo Đinh Tuấn V từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách của bị cáo gấp đôi, đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Đề nghị phạt bị cáo Đinh Ngọc Đ từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách của bị cáo gấp đôi, đề nghị miễn phạt bổ sung bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

Các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 , Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ trình bày đồng ý với Cáo trạng của viện kiểm sát truy tố, trong khi bị tạm giam các bị cáo rất hối hận, kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo cam kết không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1, Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu hồi được, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nên có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, tại khu đất phía sau nhà Đỗ Huy K1 thuộc ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1, Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ có hành vi đánh bạc dưới hình thức “Đá gà”. Khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Bảo Q làm trọng tài để thu tiền xâu ngoài ra còn góp tiền để đánh bạc, Đỗ Huy K1 cho Q thuê địa điểm để đánh bạc và tham gia làm trọng tài 01 trận gà. Đinh Ngọc Đ và Đinh Tuấn V cùng một số đối tượng khác tham gia cá cược các trận gà. Tổng cộng các bị cáo đã cá cược với nhau 03 trận đá gà, trong đó trận thứ nhất có số tiền đánh bạc là 4.375.000 đồng; trận thứ hai có số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng; trận thứ ba có số tiền đánh bạc là 2.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Đinh Ngọc Đ là 9.600.000 đồng, trong đó trận thứ nhất 2.600.000 đồng, trận thứ hai 6.000.000 đồng, trận thứ ba 1.000.000 đồng; số tiền đánh bạc của Đinh Tuấn V là 7.375.000 đồng, trong đó trận thứ nhất 4.375.000 đồng, trận thứ hai 3.000.000 đồng; của Nguyễn Bảo Q là 500.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Quốc thu được số tiền xâu 450.000 đồng, Q trả tiền cho K1 thuê địa điểm đánh bạc là 200.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1 , Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Cáo trạng số 50/CT.VKS – TN ngày 17/4/2024 của VKSND huyện Thống Nhất truy tố các bị cáo Q, K1, V, Đ về tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có cơ sở chấp nhận.

Hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức “Đá gà”của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình, gây dư luận sấu trong nhân dân, hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền của các bị cáo có thể là hệ luỵ và nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh nhiều loại tội phạm khác bởi vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục dăn đe phòng ngừa cho xã hội.

3 Xét về tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo thì thấy:

Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ cùng với vai trò là người thực hành, trực tiếp đưa tiền vào đánh bạc trái phép để sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức “đá gà” Nguyễn Bảo Q, với vai trò tìm kiếm thuê địa điểm của bị cáo K1, dùng điện thoại kêu V, Đ mang gà đến đá sát phạt nhau, bị cáo bỏ tiền 500.000 đồng vào trực tiếp tham gia đanh bạc, làm trọng tài và thu tiền xâu; bị cáo Đỗ Huy K1 là người giúp sức cho thuê địa điểm đánh bạc để thu tiền sâu, cụ thể. Bị cáo Đ đưa 9.600.000 đồng vào đánh bạc, bị cáo V đưa 7.375.000 đồng vào đánh bạc.

4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4.1 Về nhân thân: Các bị cáo Đinh Ngọc Đ, Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1, Đinh Tuấn V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

4.2 Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đỗ Huy K1, Đinh Tuấn V và Đinh Ngọc Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Q, K1, V, Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho các bị cáo Q, K1, V, Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Bị cáo V sau khi phạm tội đã ra tự thú, bị cáo K1, Đ, Q đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

5 Về quyết định hình phạt:

5.1 Về hình phạt chính:

+ Các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1 nhất thời phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo động cơ mục đích dùng tiền để sát phạt nhau nhằm thu lợi bất chính; các bị cáo có nghề nghiệp có nhiều tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng cụ thể, trong thời giam áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, các bị cáo chấp hành tốt pháp luật; các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; Xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo là phù hợp. Vì vậy cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ nghiêm khắc để giáo dục, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung các bị cáo Q, Đ, V mỗi bị cáo phải nộp 20.000.000 đồng sung quỹ nhà nước để răn đe, bị cáo K1 với vai trò giúp sức không đáng kể, thu nhập không ổn định xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo K1 là có cơ sở.

6 Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật TTHS năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 02 cặp cựa sắt là công cụ phục vụ việc đánh bạc,

+ Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám của Nguyễn Bảo Q; tịch thu 01 cân đồng hồ loại 05kg của Đỗ Huy K1 là công cụ phục vụ việc đánh bạc.

+ Tịch thu sung công đối với số tiền 2.350.000 đồng của Đinh Ngọc Đ sử dụng vào việc đánh bạc; số tiền 250.000 đồng thu giữ của Nguyễn Bảo Q (trong đó 245.000 đồng bắt quả tang và 5.000 đồng Q tự giao nộp) và số tiền 200.000 đồng do Đỗ Huy K1 tự giao nộp do các bị cáo thu lợi từ việc đánh bạc.

+ Đối với các xe mô tô biển kiểm soát 60B7-7543.97 và 60B8-209.94 có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ đúng pháp luật.

07 Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

08 Đối với các đối tượng cùng tham gia đánh bạc gồm: T2, V1, T3 (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch), Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1 phạm tội “ Đánh bạc”.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q 01 (một) năm tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, Phạt bổ sung bị cáo phải nộp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Đ 01 (một) năm tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, Phạt bổ sung bị cáo phải nộp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

+ Xử phạt bị cáo Đinh Tuấn V 01 (một) năm tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, Phạt bổ sung bị cáo phải nộp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Giao các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Tuấn V, Đinh Ngọc Đ cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Huy K1 09 (chín) tháng tù nhưng xét cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Giao bị cáo Đỗ Huy K1 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Trong trường hợp các bị cáo Đinh Ngọc Đ, Nguyễn Bảo Q, Đinh Tuấn V, Đỗ Huy K1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

+ Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên theo quy định của luật thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật TTHS năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 02 (hai) cặp cựa sắt là công cụ phục vụ việc đánh bạc,

+ Tịch thu sung công đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám của Nguyễn Bảo Q, tịch thu 01 cân đồng hồ loại 05kg của Đỗ Huy K1 là công cụ phục vụ việc đánh bạc.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024).

+ Tịch thu sung công đối với số tiền 2.350.000 đồng của Đinh Ngọc Đ sử dụng vào việc đánh bạc; số tiền 250.000 đồng thu giữ của Nguyễn Bảo Q (trong đó 245.000 đồng bắt quả tang và 5.000 đồng Q tự giao nộp) và số tiền 200.000 đồng do Đỗ Huy K1 tự giao nộp do các bị cáo thu lợi từ việc đánh bạc.

(số tiền trên đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, theo biên lai thu tiền số 0004009 ngày 17/4/2024).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Bảo Q, Đinh Ngọc Đ, Đinh Tuấn V và Đỗ Huy K1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm) nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ