- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Lưu uân S ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Thiều
Ông Nguyễn Duy Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà h m Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 9 năm 2024, t i Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐ ST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối v i ị cáo:
Lƣu Xuân S, sinh ngày 02/7/1990 t i huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Vĩnh B, sinh năm 1968 và à Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; ị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Bản án số 81/2020/HSST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình ph t 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình ph t tù ngày 31/7/2021, thi hành xong án phí tháng 11/2020. Bản án số 85/2022/HSST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ph t 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình ph t tù ngày 15/01/2024, thi hành xong án phí ngày 30/01/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 18/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ph t 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản và 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng về tội Cố ý gây thương tích cho người khác, tổng hợp hình ph t của hai tội là 30 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 54 tháng; ản án số 24/2010/HSST ngày 20/5/2010 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình ph t 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp hình ph t 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích cho người khác của ản án số 18/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà uộc chấp hành hình ph t chung của hai ản án là 04 năm tù, chấp hành xong hình ph t tù ngày 08/12/2013; ản án số 09/2016/HSST ngày 28/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình ph t 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình ph t tù ngày 06/3/2018.
Bị t m giữ t ngày 14/5/2024 đến ngày 20/5/2024 chuyển t m giam cho đến nay, hiện đang ị t m giam t i Nhà t m giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt). Người làm chứng: 1. Ông Nguyễn Bá S1, sinh năm 1960. 2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961. Cùng cư trú: Tổ A, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, t i khu vực tổ D, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Q phối hợp v i Công an thị trấn Q phát hiện Lưu uân S đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, lo i Nouvo, mang iển số 25N1-031.34 có iểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu d ng xe để kiểm tra. S d ng xe, để xe đổ vào ờ tường sát đường rồi ném vào tường 01 gói giấy trắng có in mực màu đen rơi xuống đất sát lề đường, cách vị trí S đứng khoảng 02 mét. T i đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra người S và xe mô tô trên, không phát hiện quản lý gì; kiểm tra gói giấy trắng in mực màu đen thấy ên trong là chất ột màu trắng d ng cục; Tổ công tác đã quản lý, niêm phong gói vật chứng trên, yêu cầu S về trụ sở Công an thị trấn Q để làm việc. Ban đầu S không th a nhận gói ma túy trên là của S, không ký vào iên ản ắt người ph m tội quả tang, iên ản quản lý, iên ản niêm phong đồ vật tài liệu ị t m giữ. Đến 16 giờ cùng ngày, S đã khai nhận toàn ộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của ị cáo không phát hiện, thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 652/KL-KTHS ngày 18/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật giám định là ma túy, loại Herôin (Heroine),có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,2096 gam (không phẩy hai nghìn không trăm chín mươi sáu gam).
Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.”
T i phiên tòa ị cáo khai: Sáng ngày 14/5/2024, ị cáo điều khiển xe mô tô Nouvo mang iển số 25N1-031.34 t nhà đến xã Q, huyện Q mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không iết tên, địa chỉ 01 gói Heroine v i giá 150.000 đồng, cầm trong lòng àn tay trái và điều khiển xe đi tìm chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ D, thị trấn Q, huyện Q thì ị ắt quả tang.
Bản cáo tr ng số 79/CT-VKSQ ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh hụ, tỉnh Thái Bình truy tố Lưu uân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố Lưu uân S ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, ph t ị cáo t 06 năm tháng 03 tháng đến 06 năm 06 tháng tù, thời h n tù tính t ngày 14/5/2024; không áp dụng hình ph t ổ sung là ph t tiền đối v i ị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nh hình ph t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi ph m tội của ị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi ph m pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Lời khai nhận tội của ị cáo t i phiên tòa đúng như nội dung cáo tr ng và phù hợp v i các lời khai của ị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh ng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên ản ắt người ph m tội quả tang; iên ản quản lý đồ vật, tài liệu; iên ản niêm phong đồ vật, tài liệu ị t m giữ; iên ản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập cùng ngày 14/5/2024; hiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 14/5/2024 của Trung tâm y tế huyện Q; Kết luận giám định số 652/KL-KTHS, ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng toàn ộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 15 phút ngày 14/5/2024, t i khu vực tổ D, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Lưu uân S có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói Heroine, có khối lượng 0,2096 gam (không phẩy hai nghìn không trăm chín mươi sáu gam) mục đích để sử dụng cho ản thân. Bị cáo đã tái ph m, chưa được xóa án tích mà l i thực hiện hành vi ph m tội do cố ý, do đó hành vi của ị cáo đã ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” v i tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định t i điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…
o) Tái phạm nguy hiểm.
...
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh hụ truy tố và kết luận ị cáo ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
ét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi ph m tội của ị cáo thấy: Hành vi của ị cáo là rất nghiêm trọng, xâm ph m chính sách độc quyền quản lý của Nhà nư c về các chất ma túy, xâm ph m trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đời sống kinh tế cũng như đ o đức xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều lo i tội ph m khác, gây dư luận ất ình trong quần chứng nhân dân. Bị cáo hiểu được tác h i của ma túy và iết r pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy ị cáo phải chịu mức án tương xứng v i hành vi ị cáo đã gây ra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không ị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. T i phiên tòa ị cáo khai áo trung thực toàn ộ hành vi ph m tội, do đó được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo đã a lần ị kết án vào các năm 2009, 2010 và 2013 về các tội Trộm cắp tài sản, Cố ý gây thương tích và Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi ph m tội, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo đã phân tích trên thấy: Mặc dù ị cáo đã được pháp luật cải t o, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn không lấy đó làm ài học để sửa đổi ản thân l i tiếp tục ph m tội; hành vi của ị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình ph t nghiêm minh, cách ly ị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đ i diện Viện kiểm sát đề nghị để cải t o, giáo dục ị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ng a tội ph m chung.
Về hình ph t ổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ị cáo có thể ị áp dụng hình ph t ổ sung là hình ph t tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của ị cáo t i phiên tòa cho thấy ị cáo nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho ản thân, thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình ph t ổ sung là ph t tiền đối v i ị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã án ma túy cho ị cáo, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của ị cáo 01 gói chứa chất ột màu trắng d ng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy lo i Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. ét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp v i quy định t i Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối v i chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, lo i Nouvo mang iển số 25N1-031.34 quá trình điều tra được xác định là tài sản hợp pháp của ông Lưu Vĩnh B ( ố đẻ ị cáo). Ông B không iết việc ị cáo mượn xe để đi mua ma túy, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả l i chiếc xe cho ông là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên ố ị cáo Lưu uân S ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, ph t ị cáo Lưu uân S 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính t ngày 14 tháng 5 năm 2024.
- ử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1514 gam (không phẩy một nghìn năm trăm mười bốn gam) mẫu vật gửi giám định và toàn ộ ao gói quản lý của Lưu uân S trong phong ì hoàn trả mẫu vật giám định số 652 KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 21/8/2024.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ị cáo Lưu uân S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể t ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh hụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh hụ; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh hụ; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Nhà t m giữ CA huyện Quỳnh hụ; - Tr i t m giam CA tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Quỳnh hụ; - UBND xã Châu Sơn, huyện Quỳnh hụ; - Lưu HS, V . | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng Liên |