vanban.org

Bản án 83/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 10/10/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Th - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 83/2024/HS-ST
Ngày: 20/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tòng Văn Hưng

2. Bà Trần Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/ QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Lường Văn T, tên gọi khác: không; sinh năm: 1992 tại Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn B (đã chết) và bà Lường Thị R (đã chết); Bị cáo có vợ là Quàng Thị T1, bị cáo chưa có con. Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/10/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Quàng Văn T2, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Bản X, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (có mặt).

2. Anh Nạ Văn T3, sinh năm 1996

Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt).

3. Chị Quàng Thị T1, sinh năm 1992

Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2023, tổ công tác Đồn biên phòng P1 – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ chủ trì phối hợp với Công an xã P, huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phát hiện Lường Văn T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 27B1-718.45 chở Quàng Văn T2 đi theo hướng từ bản Púng Bon về phía tổ công tác có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại tay trái của T đang cầm 01 gói giấy báo màu trắng, bên trong chứa 0,19 gam Heroine, kiểm tra người Quàng Văn Toàn không phát hiện thu giữ gì.

Lường Văn T khai gói Heroine trên là của T cất giấu để cùng T4 sử dụng, nguồn gốc gói ma tuý này là do vào khoảng 20 giờ cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1-718.45, đi từ nhà ở bản P, xã P, huyện Đ đến nhà Quàng Văn T2 ở bản X, xã P, huyện Đ rủ T2 đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, T chở T2 đến nhà Nạ Văn T3 ở bản P, xã P, huyện Đ. Đến nơi T2 đứng ở ngoài cửa bếp, còn T đi vào trong bếp ngồi cạnh T3 và hỏi mua 100.000 đồng Heroine, T3 đồng ý bán cho T 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Heroine ở tay trái rồi chở T2 đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực bản P, xã P, huyện Đ thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là gói ma tuý cùng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-718.45 kèm theo chìa khoá xe.

Quàng Văn T2 khai T chỉ rủ T2 đi chơi cùng và không nói cho T2 biết việc đi mua Heroine. Khi đến nhà T3, T2 đứng ở ngoài nên không nghe thấy T và T3 trao đổi gì với nhau, chỉ đến khi T bị tổ công tác kiểm tra thì T2 mới biết Theng cất giấu ma túy. Nạ Văn T3 khai không bán H cho T.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra của cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đề nghị được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị T1 cho rằng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-718.45 là tài sản chung của chị và bị cáo. Có nguồn gốc là sau khi chị về chung sống với bị cáo thì góp tiền mua chung xe, chị T1 không biết bị cáo lấy xe đi mua ma tuý, chị T1 đề nghị được nhận lại tài sản của mình.

Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSĐB ngày 01/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn T với mức hình phạt từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,12 gam thu giữ của bị cáo. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe biển kiểm soát 27B1-718.45 là phần sở hữu của Theng đối với chiếc xe, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho chị Quàng Thị T1 1/2 giá trị chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-718.45 là phần sở hữu của chị T1 đối với chiếc xe.

Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2023, tại khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên Lường Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Hành vi của T đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Lường Văn T có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma túy, coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, do bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, không có tài sản gì có giá trị lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,12 gam thu giữ của bị cáo vì là chất Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-718.45 là tài sản chung của bị cáo và Quàng Thị T1 nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe là phần sở hữu của T do T đã sử dụng xe vào việc đi mua ma tuý; Cần căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho chị Quàng Thị T1 1/2 giá trị chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-718.45 là phần sở hữu của chị T1 đối với chiếc xe do chị T1 không biết bị cáo đem xe đi mua ma tuý.

Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm của vụ án vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Về vấn đề khác có liên quan: Lường Văn T khai cùng T2 đi mua ma túy của T3 để sử dụng. T2 khai chỉ được T rủ đi chơi chứ không biết đi mua ma tuý, T3 khai không được bán ma tuý cho T; Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định T2 đã đi mua ma tuý cùng T và T3 bán ma tuý cho T. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với những người này.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 điều 136, khoản 1, 4 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 10/10/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,12 gam thu giữ của bị cáo.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Lường Văn T ½ giá trị chiếc xe mô tô hai bánh: Nhãn hiệu Yamaha; Số loại SIRIUS; Màu sơn: Đỏ, đen; Dung tích 110; Số máy: E3X9E411196; Số K: RLCUE3210JY177199; Mang biển kiểm soát: 27B1-718.45 và 01 chìa khoá xe mô tô, xe đã cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại ½ giá trị xe chiếc xe mô tô hai bánh: Nhãn hiệu Yamaha; Số loại SIRIUS; Màu sơn: Đỏ, đen; Dung tích 110; Số máy: E3X9E411196; Số K: RLCUE3210JY177199; Mang biển kiểm soát: 27B1-718.45 và 01 chìa khoá xe mô tô, xe đã cũ, đã qua sử dụng cho chị Quàng Thị T1.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.)

4. Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần quyết định của bán án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/3/2024), Người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần quyết định của bán án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ