vanban.org

Bản án 83/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc H.

Buộc bà Nguyễn Thị L, anh Trần Thành L phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Phan Thị Ngọc H số tiền 212.000.000 đồng. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà L, anh L chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/DS-ST
Ngày: 10/4/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông BÙI VĂN MÀU

2. Bà ÂU THỊ NGỌC HOA

- Thư ký phiên tòa: Ông CAO TRẦN KHẮC HUY - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không có.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 773/2023/TLST–DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Quang N, sinh năm 1956, địa chỉ: khu 0, thị trấn C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang là người đại diện theo ủy quyền của chị H (văn bản ủy quyền đề ngày 25/11/2023 có công chứng của Văn phòng công chứng M). (Có mặt)

2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Anh Trần Thành L, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 24/11/2023 và lời khai tại Tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn, ông Bùi Quang N trình bày:

Do quen biết nên vào ngày 25/6/2023, bà H có cho bà L, anh L mượn số tiền 217.000.000 đồng. Bà L, anh L có lập biên nhận cho bà H làm tin và có hứa từ ngày 30/6/2023 đến ngày 30/9/2023 trả mỗi tháng cho bà H số tiền 10.000.000 đồng, từ ngày 30/10/2023 trả mỗi tháng 5.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận lãi suất.

Sau đó, họ chỉ trả được 5.000.000 đồng vào ngày 30/6/2023, còn nợ lại 212.000.000 đồng và ngưng trả luôn cho đến nay.

Bà H có yêu cầu bà L, anh L liên đới trả số tiền mượn còn thiếu là 212.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất phát sinh.

Bị đơn Nguyễn Thị L, Trần Thành L không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên. Bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Bà Nguyễn Thị H, anh Trần Thành L vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai, căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung:

[2] Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, tại phiên tòa, nguyên đơn đã khẳng định thực tế bị đơn có mượn số tiền 217.000.000 đồng của nguyên đơn, không thỏa thuận lãi suất. Bị đơn có viết biên nhận cho nguyên đơn làm tin, có hứa từ ngày 30/6/2023 đến ngày 30/9/2023 trả mỗi tháng cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng, từ ngày 30/10/2023 trả mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng chỉ mới trả được 5.000.000 đồng, còn nợ lại 212.000.000 đồng đến nay chưa trả.

Đồng thời, trong quá trình thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, bị đơn cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện sự không phản bác đối với việc khởi kiện của nguyên đơn cũng như đối với các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp tại Tòa.

Từ đó, xác định việc bị đơn có vay tiền và hiện còn thiếu nợ lại nguyên đơn là có thật theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc H, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L, anh Trần Thành L phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền vốn vay còn thiếu là 212.000.000 đồng theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất phát sinh nên Hội đồng xét xử tôn trọng và chấp nhận quyền tự định đoạt của đương sự.

[3] Về án phí: Bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 92, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288, 357, 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc H.

Buộc bà Nguyễn Thị L, anh Trần Thành L phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Phan Thị Ngọc H số tiền 212.000.000 đồng.

Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà L, anh L chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí: Bà L, anh L liên đới chịu 10.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà H số tiền 5.300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014757 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ