- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND TỈNH THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TAND TP THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HSST Ngày: 13/04/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Quyên - cán bộ toà án nhân dân TP Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 04 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2023/TLST-HS ngày 28/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HS ngày 30/03/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Duy S; Sinh năm 2000
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 10, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Vũ Duy Kh, Đã chết; Con bà: Lê Thanh B, sinh năm 1973; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có
- Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng: Sùng Mí S, sinh năm 2004(Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Lũng Hòa B, xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Người chứng kiến: Nguyễn Quốc M, sinh năm 1976(Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 05, P. Hoàng Văn Thụ, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 15/12/2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại ngõ 332, đường Bắc Kạn thuộc tổ 05, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên có hai thanh niên đứng trước nhà nghỉ Ban Mai Xanh có biểu hiện liên quan ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, hai nam thanh niên khai tên là Vũ Duy S và Sùng Mí S (Sinh năm 2004, trú tại: Thôn Lũng Hòa B, xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang). Quá trình kiểm tra, S tự giác lấy từ túi quần trước bên trái đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 viên nén màu xám, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác (niêm phong ký hiệu A1), S khai nhận đây là ma túy của S đem đi bán cho người khác kiếm lời. Kiểm tra đối với Sùng Mí S không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Duy S và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng của Vũ Duy S.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,870 gam (niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định); Số viên nén màu xám có khối lượng 1,580 gam (niêm phong ký hiệu B2 gửi giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 24/12/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là: 0,870 gam.
- Các viên nén màu xám trong bì niêm phong ký hiệu B2 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là: 1,580 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Duy S khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 15/12/2022, S rủ Sùng Mí S là bạn của S ở phòng trọ tổ 10, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên cùng nhau thuê xe taxi đi ra khu vực đường Bắc S, thành phố Thái Nguyên để ăn trưa. Sau đó, trên đường đi về S nhận được điện thoại của khách hỏi mua ma túy và hẹn nhận ma túy tại khu vực nhà nghỉ Ban Mai Xanh thuộc phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên nên S gọi điện thoại cho một người đàn ông tên M (thường gọi là Mạnh Lượng, S không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy để bán lại kiếm lời. Mạnh đồng ý và bảo S đi đến khu vực trường đại học Khoa học Thái Nguyên thuộc phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên đợi người mang ma túy đến. Sau đó, Vũ Duy S cùng Sùng Mí S đến khu vực trên. Tại đây, Vũ Duy S gặp và mua của 01 nam thanh niên (không quen biết) 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 viên nén màu xám, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng với giá 2.600.000 đồng (Số tiền trên khi bán được ma túy S sẽ trả sau). Mua xong, S cất số ma túy vào túi quần trước bên trái đang mặc rồi cùng Sùng Mí S ra khu vực đã hẹn bán cho khách kiếm lời. Khi đến khu vực đường Bắc Kạn, S cùng Sùng Mí S xuống xe taxi và đi bộ đến nhà nghỉ Ban Mai Xanh thuộc tổ 05, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên để bán ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Quá trình Vũ Duy S giao dịch mua ma túy và mang đi bán thì Sùng Mí S không biết.
Lời khai nhận của Vũ Duy S phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, B2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong chứa vỏ bao niêm phong ban đầu; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu S chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đã qua sử dụng. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 101/CT- VKSTPTN, ngày 27/03/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Vũ Văn S từ 40 đến 42 tháng tù giam. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, B2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong chứa vỏ bao niêm phong ban đầu;
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Về án phí: Bị cáo phải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Duy S tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 15/12/2022, tại khu vực tổ 05, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Vũ Duy S có hành vi tàng trữ 0,870 gam Ketamine và 1,580 gam MDMA, mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có mục đích lợi nhuận, thu lời bất chính. TTộộii pphhạạmm vvàà hhììnnhh pphhạạtt ccủủaa bị cáo được quy định tại kkhhooảảnn 11 ĐĐiiềềuu 225511 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự..
Nội dung Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, song do lợi nhuận bị cáo S đã có hành vi mua ma túy mục đích để bán kiếm lời. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ nhưng lười lao động, không chịu làm ăn chân chính, rèn luyện tu dưỡng bản thân, vì ham lợi nhuận có hành vi mua bán ma túy mục đích kiếm lời dẫn đến phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.
. Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề xuất là có phần hơi nghiêm khắc đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, B2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong chứa vỏ bao niêm phong ban đầu;
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Vũ Duy S khai mua của 01 nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực trường đại học Khoa học Thái Nguyên thuộc phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên do người đàn ông tên Mạnh không rõ lai lịch, địa chỉ bảo đến. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Đối với đối tượng gọi điện hỏi mua ma túy của S. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với Sùng Mí S qua điều tra xác định: Việc Vũ Duy S cất giấu mua bán trái trái phép ma túy Sùng Mí S không biết và không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Sùng Mí S.
Đối với lái xe taxi Vũ Duy S thuê chở đi mua bán trái trái phép ma túy lái xe người taxi không biết và không liên quan gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xem xét xử lý.
. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy S: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2022.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo S số tiền 5.000.000đ(Năm triệu) đồng.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Văn S 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong chứa 0,875 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; mặt sau có 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Nguyễn Đức Thủy và Ma Nhật Anh.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong chứa vỏ bao mẫu ban đầu; mặt sau có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên và chữ ký của Quách Minh Hải, Quản Mỹ Hạnh, Tống Hoàng Hải, Vũ Duy S, Ngô Hoàng Đạo, Nguyễn Quốc Minh.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đã qua sử dụng, IMEL: 3594819872213245 (được đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu S) do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 300 ngày 11/04/2023)
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước;
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư TAND TP. THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2018
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi……. giờ…..ngày ….. tháng …. năm 2018
Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Bà Bùi Diễm Hạnh
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2018/TLST - HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Tố Loan, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1977.
Tên gọi khác: Không
Nơi ĐKNKTT : Tổ 12, phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: Tổ 32, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên.
2. Họ và tên: Nguyễn Duy Hưng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1999
Tên gọi khác : Không
Nơi ĐKNKTT: Xóm bằng Ninh, xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tố Loan, Nguyễn Duy Hưng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Kết quả biểu quyết 3/3.
2. Về điều luật áp dụng vvàà mmứứcc hhììnnhh pphhạạtt::
- Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tố Loan: 15 ( Mười lăm ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/01/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Hưng: 12 ( Mười hai ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/01/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm ccáácc bbịị ccááoo NNgguuyyễễnn TThhịị TTốố LLooaann,, NNgguuyyễễnn DDuuyy HHưưnngg 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
4. Về các vấn đề khác:
** VVềề xxửử llýý vvậậtt cchhứứnngg:: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4477 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự;; ĐĐiiềềuu 110066 BBộộ lluuậậtt TTốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự nnăămm 22001155::
+ Tịch thu tiêu hủy : 03 bì niêm phong theo quy định, ký hiệu L, L2, L3; 01 cân điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKETSCALE; 20 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, số Imei 1: 354877082164628, Imei 2: 354877082164636, kèm theo 02 sim điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng, số Imei: 235415/02/160125/9, kèm theo 01 sim điện thoại;
+ Tạm giữ số tiền 200.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam của bị cáo Loan để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 232 ngày 20/4/2018, Ủy nhiệm chi số 47 ngày 12/4/2018)
** VVềề áánn pphhíí:: ÁÁpp ddụụnngg kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 113366 BBộộ lluuậậtt ttốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự;; NNgghhịị qquuyyếếtt 332266//22001166//UUBBTTVVQQHH nnggààyy 3300//1122//22001166,, bbuuộộcc bbịị ccááoo pphhảảii nnộộpp 220000..000000 đđồồnngg ((HHaaii ttrrăămm nngghhììnn đđồồnngg)) áánn pphhíí hhììnnhh ssựự ssơơ tthhẩẩmm vvààoo nnggâânn ssáácchh nnhhàà nnưướớcc..
** VVềề qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo:: BBịị ccááoo ccóó mmặặtt ttạạii pphhiiêênn ttooàà ccóó qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo bbảảnn áánn ttrroonngg tthhờờii hhạạnn mmưườờii llăămm nnggààyy kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày ...... tháng .... năm 2018
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, người làm chứng, vật chứng thu giữ. (BL: 14-40)
Vật chứng của vụ án là: 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới sắt B40; 01 bó lưới sắt B40 có chiều dài 3m.
Tại bản kết luận số 158/HĐĐGTS, ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: Tổng giá trị tài sản trên là 442.500đ. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Phương đại diện công ty CP Trung Tín quản lý, sử dụng, ông Phương không có yêu cầu đề nghị gì.
Tuy tài sản do Trần Phi Hùng trộm cắp có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng trước đó Hùng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi nêu trên của Trần Phi Hùng đã cấu thành tội phạm hình sự.
Bản cáo trạng số 314/KSĐT - KT, ngày 14/7/2014 của VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Trần Phi Hùng về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự đối xử phạt Trần Phi Hùng từ
đến tháng tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2014.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác..
XÉT THẤY
Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 13/5/2014, tại công trường xây dựng của Công ty cổ phần Trung Tín thuộc tổ 9, phường Trưng Vương, TPTN. Trần Phi Hùng là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản đã thực hiện hành vi trộm cắp của Công ty cổ phần Trung Tín 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới B40 và 01 bó lưới sắt B40 dài 3m, tổng trị giá là 442.000đ. Khi Hùng đang mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho công ty cổ phần Trung Tín quản lý, sử dụng.
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là thành khẩn khai báo bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 48 Bộ luật hình sự.
Mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Toàn bộ tài sản do Hùng trộm cắp đã được thu hồi trả lại Công ty cổ phần Trung Tín, đại diện là anh Nguyễn Văn Phương, anh Phương không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự,
- Xử phạt Trần Phi Hùng:
(
) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014.
Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam Trần Phi Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL - UBTNQH12 về án phí, lệ phí Tòa án: buộc Trần Phi Hùng phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
| Nơi nhận: VKSND, Tỉnh, TP; - Công an TPTN; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đặng Minh Tuân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoµng Quý Söu |