- Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HSST Ngày: 29/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sỹ
2. Ông Phạm Ngọc Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải là Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2023/HSST-QĐ ngày 17/5/2023 đối với bị cáo:
Lê Minh N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/10/1982 tại Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; tên cha: Lê T (chết); tên mẹ: Đoàn Thị Th, sinh năm 1948; Vợ: Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1982 (đã ly hôn), con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Quốc H, sinh năm 1986; trú tại: 09 đường H, khu phố 7, phường H, thành phố Q, tỉnh B; vắng mặt.
2. Anh Đặng Văn B, sinh năm 1992; Trú tại: Tổ 59, khu phố 11, phường H, thành phố Q, tỉnh B; vắng mặt.
3. Bà Đoàn Thị Th, sinh năm: 1948; Nơi cư trú: Tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 07/11/2022, Đồn Biên phòng của khẩu Cảng Quy Nhơn phối hợp với Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm – Bộ đội biên phòng tỉnh Bình Định, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an tỉnh Bình Định và Đội Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an thành phố Quy Nhơn tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Lê Minh N thuộc tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B. Tổ công tác phát hiện trên phòng thờ ở gác lửng có cất giấu 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý, 01 bình nhựa gắn 01 ống thuỷ tinh và 01 nỏ thuỷ tinh. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa người và toàn bộ tang vật về trụ sở để làm việc.
Đến 13 giờ 15 phút cùng ngày, tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại địa chỉ trên thì phát hiện bên trong phòng ngủ của N có cất giấu 02 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý; 01 nỏ thuỷ tinh; 08 ống thuỷ tinh; 02 chiếc cân điện tử; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, gắn thẻ sim số 0869364733; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, gắn 02 thẻ sim số 0779579456, 0989457413; 07 viên kim loại hình trụ nghi là viên đạn; 01 vật kim loại hình hộp chữ nhật nghi là súng. N khai nhận các hạt tinh thể trong 03 gói nilon đã bị thu giữ trên đều là ma tuý đá, N cất giấu để bán lại cho người khác để kiếm lời.
Quá trình điều tra xác định: Vào sáng ngày 01/11/2022, N sử dụng điện thoại Nokia, gắn thẻ sim số 0989457413 gọi cho người tên “Bi” (không rõ lai lịch, ở thành phố Hồ Chí Minh, N đã xoá số điện thoại của Bi sau khi gọi xong nên không nhớ số điện thoại) để hỏi mua ma tuý với giá 8.000.000 đồng, “Bi” đồng ý và cả hai thoả thuận sẽ giao, nhận ma tuý qua đường xe khách Bắc – Nam. Đến khoảng 9 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, Nhật đến đường Quốc lộ 1D đoạn gần Hồ Phú Hoà, thành phố Quy Nhơn nhận gói hàng bên trong có gói ma tuý từ xe khách Bắc – Nam (không rõ lai lịch) giao và N đưa 8.000.000 đồng cho phụ xe rồi rời đi. Sau khi có được ma tuý, N đã đem về nhà chia ra và bán cho Trần Quốc H 02 lần và bán cho Đặng Văn B 01 lần, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 16 giờ ngày 02/11/2022, tại nhà của N ở tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B, Nhật đã bán cho H 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng, thu lợi được 200.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 04/11/2022, tại nhà của N ở tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B, Nhật đã bán cho H 01 gói ma tuý đá với giá 400.000 đồng, thu lợi được 100.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 18 giờ ngày 04/11/2022, tại nhà của N ở tổ 31, khu phố 6, phường H, thành phố Q, tỉnh B, N đã bán cho B 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng, thu lợi được 200.000 đồng.
Đối với số ma tuý còn lại, N cất giấu tại nhà chưa kịp bán thì đã bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ.
Theo Kết luận giám định số 438 ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định, kết luận:
- Các hạt tinh thể đựng bên trong 01 gói nilon được hàn kín (ký hiệu A1) gửi giám định có khối lượng 9,7939 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
- Các hạt tinh thể đựng bên trong 02 gói nilon được hàn kín (ký hiệu A2) gửi giám định có tổng khối lượng 16,9023 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
Ngày 10/12/2022, Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng có văn bản số 1788 kết luận:
- 01 (một) vật kim loại hình hộp chữ nhật gửi giám định là phương tiện được chế tạo, sản xuất không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có tính năng, tác dụng tương tự như súng bắn đạn cao su, đạn hơi cay, hiện tại sử dụng bắn được nên thuộc công cụ hỗ trợ (không phải là vũ khí).
- 07 (bảy) viên kim loại có đặc điểm nêu trên gửi giám định là đạn cao su cỡ (9 x 22) mm, hiện tại sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ (không phải là vũ khí).
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn hiện đang tạm giữ:
- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định, 8,9993 gam mẫu A1, 15,9586 gam mẫu A2 còn lại sau giám định.
- 01 (một) bình nhựa bên trên có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh bị vỡ phần đầu tròn.
- 01 (một) nỏ thuỷ tinh.
- 08 (tám) ống thuỷ tinh.
- 01 (một) cân điện tử nắp lưng màu xanh.
- 01 (một) cân điện tử nắp lưng màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động vỏ ngoài ghi chữ Iphone, màu đen, gắn thẻ sim số 0869364733, đã qua sử dụng.
- 01 ( một) điện thoại di động vỏ ngoài ghi chữ Nokia, màu đen, gắn 02 thẻ sim số 0779579456, 0989457413, đã qua sử dụng.
- 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 02 dấu tròn của Phân viện khoa học hình sự Đà Nẵng, bên trong đựng 04 (bốn) viên đạn cao su cỡ (9 x 22) mm; 01 (một) vật kim loại hình hộp chữ nhật, kích thước (8,5 x 3,5 x 1,5) cm, một đầu có 02 lỗ tròn đường kính 0,8cm, đầu còn lại có gắn 01 vòng kim loại hình tròn.
Bản Cáo trạng số 63/CT – VKSQN ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Lê Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Minh N có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ trái phép 26,6962 gam ma tuý loại Methaphetamine nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Ngoài ra, trong quá trình điều tra xác định N đã 02 lần bán ma tuý cho Trần Quốc H, 01 lần bán cho Đặng Văn B, tổng số tiền N thu lợi được qua 03 lần bán ma tuý là 500.000 đồng nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù.
* Về vật chứng vụ án, đề nghị:
- Truy thu 500.000 đồng của bị cáo thu lợi bất chính.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 ( một) điện thoại di động vỏ ngoài ghi chữ Nokia, màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng còn lại vì không có giá trị sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động vỏ ngoài ghi chữ Iphone, màu đen, đã qua sử dụng.
* Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ của Lê Minh N, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND thành phố Quy Nhơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
- Đối với hành vi tàng trữ 08 ống thuỷ tinh, N khai nhận chỉ sử dụng các ống thủy tinh này để gắn đèn led trang trí hồ cá nên không có căn cứ để xử lý N về hành vi tàng trữ trái phép công cụ sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Đối tượng tên “Bi” là người đã bán ma túy cho bị cáo Lê Minh N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với Trần Quốc H, Đặng Văn B là người mua ma túy của Lê Minh N về để sử dụng. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố Quy Nhơn đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bà Đoàn Thị Th không biết bị cáo Nhật cất giấu, mua bán trái phép chất ma túy nên không phạm tội.
Bị cáo không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Để có tiền tiêu xài, vào ngày 07/11/2022, bị cáo Lê Minh N đã có hành vi tàng trữ trái phép 26,6962 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi. Ngoài ra trong trong quá trình điều tra xác định Nhật đã bán ma tuý cho Trần Quốc H 02 lần, bán cho Đặng Văn B 01 lần, tổng số tiền thu lợi bất chính qua 03 lần bán ma tuý là 500.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Lê Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Bị cáo có đầy đủ sức khỏe, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tác hại của ma túy gây ra cho xã hội là rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm nên việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài, bị cáo đã mua ma túy với giá thấp rồi bán lại với giá cao hơn để hưởng lợi bất chính. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy còn lại sau giám định; Vỏ, bao bì dùng để đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 02 điện thoại di động; 01 bình nhựa bên trên có gắn ống hút và nỏ thủy tinh bị vỡ phần đầu tròn; 01 nỏ thuỷ tinh; 08 ống thuỷ tinh; 01 cân điện tử nắp lưng màu xám; 01 cân điện tử nắp lưng màu trắng; 04 viên đạn cao su; 01 vật kim loại hình hộp chữ nhật. Xét thấy ma túy do Nhà nước cấm lưu hành nên tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (kể cả vỏ bao bì đựng ma túy). 01 bình nhựa bên trên có gắn ống hút và nỏ thủy tinh bị vỡ phần đầu tròn; 01 nỏ thuỷ tinh; 08 ống thuỷ tinh; 01 cân điện tử nắp lưng màu xám; 01 cân điện tử nắp lưng màu trắng; 01 bì thư dán kín niêm phong 02 dấu tròn của Phân viện KHHS tại Tp. Đà Nẵng – Viện KHHS, có chữ ký của Huỳnh Chí Hiếu, Phạm Kim Hải (Mỗi người 01 chữ ký), bên trong đựng: 04 viên đạn cao su (Viên kim loại) cỡ (9x22)mm; 01 vật kim loại hình hộp chữ nhật kích thước (8,5x3,5x1,5)cm, một đầu có 02 lỗ tròn đường kính 0,8cm, đầu còn lại gắn 01 vòng kim loại hình tròn không có giá trị kinh tế nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia được bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước (riêng các sim điện thoại thì tiêu hủy). 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim số 0869364733 là tài sản của bị cáo, bị cáo cũng không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Bị cáo Lê Minh N bán ma túy thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng nên truy thu của bị cáo số tiền trên để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác:
8.1. Đối với hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ của Lê Minh N, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND thành phố Quy Nhơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
8.2 Đối với hành vi tàng trữ 08 ống thuỷ tinh, N khai nhận chỉ sử dụng các ống thủy tinh này để gắn đèn led trang trí hồ cá nên không có căn cứ để xử lý N về hành vi tàng trữ trái phép công cụ sử dụng trái phép chất ma tuý.
8.3 Đối tượng tên “Bi” là người đã bán ma túy cho bị cáo Lê Minh N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
8.4 Đối với Trần Quốc H, Đặng Văn B là người mua ma túy của Lê Minh N về để sử dụng. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ cho Công an TP. Quy Nhơn đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
8.5 Bà Đoàn Thị Th không biết bị cáo N cất giấu, mua bán trái phép chất ma túy nên không phạm tội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Minh N 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022.
3. Xử lý vật chứng và truy thu nộp ngân sách Nhà nước:
3.1 Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Định, có chữ ký của Nguyễn Thị Bích Hạnh, Thân Trọng Tuấn, Nguyễn Ngọc Kiên (mỗi người 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 8,9993 gam mẫu A1 và 15,9586 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
- 01 bình nhựa bên trên có gắn ống hút và nỏ thủy tinh bị vỡ phần đầu tròn.
- 01 nỏ thuỷ tinh.
- 08 ống thuỷ tinh.
- 01 cân điện tử nắp lưng màu xám.
- 01 cân điện tử nắp lưng màu trắng.
- 01 bì thư dán kín niêm phong 02 dấu tròn của Phân viện KHHS tại Tp. Đà Nẵng – Viện KHHS, có chữ ký của Huỳnh Chí Hiếu, Phạm Kim Hải (Mỗi người 01 chữ ký), bên trong đựng: 04 viên đan cao su (Viên kim loại) cỡ (9x22)mm; 01 vật kim loại hình hộp chữ nhật kích thước (8,5x3,5x1,5)cm, một đầu có 02 lỗ tròn đường kính 0,8cm, đầu còn lại gắn 01 vòng kim loại hình tròn.
3.2 Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động vỏ ngoài ghi chữ nokia màu đen, số imei 1: 353115110879466, imei 2: 353115115879461, gắn sim 1 số 0779579456, sim 2 số 0989457413, đã qua sử dụng. Riêng các sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy.
3.3 Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại vỏ ngoài ghi chữ iphone màu đen, số imei: 358686094135351, gắn sim số 0869364733, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Quy Nhơn).
3.4 Truy thu của bị cáo Lê Minh N số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bà Đoàn Thị Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2023); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |