vanban.org

Bản án 83/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo V V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo V V N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023. Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 93/LNK-ĐCSMT ngày 02/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HS-ST
Ngày 15/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Phương Tín

2. Ông Khưu Hán Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

V V N (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 13/3/1992, tại Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Đội x, thôn xx, xã xx, huyện xx, Thành phố Hải Phòng. Chỗ ở: Phòng x, cơ sở cho thuê lưu trú XX, số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông V V P và bà V T T; bị cáo có vợ tên là T N B, có một người con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023 tổ tuần tra Công an Phường 13, Quận 11 tiến hành kiểm tra hành chính đối với đối tượng V V N tại trước nhà số xx Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11. Qua kiểm tra, đối tượng N không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Công an Phường 13 đưa đối tượng N về trụ sở Công an Phường 13, Quận 11 làm việc. Tại Công an Phường 13, Quận 11, đối tượng N tự tay lấy từ trong ba lô ra một hộp giấy màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa chất tinh thể là ma túy, 02 ống thủy tinh có đầu hình phễu tròn; 03 ống hút nhựa và 01 quẹt gas, đây là dụng cụ đối tượng N dùng để sử dụng ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với đối tượng V V N.

Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị can N tại Phòng số 104, cơ sở cho thuê lưu trú XX, số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11. Qua khám xét, Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Công an đã phối hợp với Bệnh viện Quận 11 tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy qua nước tiểu đối với bị can V V N cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Tại Bản Kết luận giám định số 8681/KL-KTHS ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,4947g loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, bị can V V N khai nhận ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy là do bị can N dùng điện thoại của bị can N để đổi với tên Thiên (không rõ lai lịch), gói ma túy trị giá 1.000.000 đồng. Bị can N quen biết với tên Thiên khi làm việc ở Campuchia, liên lạc với tên Thiên qua mạng xã hội Telegram, số điện thoại của tên Thiên là 0773770202, còn nơi ở của tên Thiên thì bị can N không biết. Bị can N không nhớ địa chỉ nơi đã giao dịch ma túy với tên Thiên. Bị can N cất giữ ma túy là để sử dụng, không dùng để bán.

Đối với chiếc điện thoại của bị can N dùng để liên lạc với tên Thiên thì bị can N đã trao đổi với tên Thiên để lấy ma túy; hiện chưa xác minh được lai lịch của tên Thiên nên Công an chưa thu giữ được. Đối với chiếc điện thoại Iphone màu trắng bị Công an thu giữ thì bị can N dùng để liên lạc cá nhân, do mới đổi mật khẩu nên bị can N không nhớ và nhập sai dẫn đến máy bị khóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã có công văn gửi Trung tâm tính cước và thanh khoản Công ty Thông tin di động (VMS Mobifone) xác minh chủ thuê bao di động 0773770202 nhưng hiện chưa có kết quả. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ.

Vật chứng của vụ án:

- Một gói niêm phong ghi vụ số 1737/23, có chữ ký của giám định viên và điều tra viên sau giám định chứa số ma túy còn lại sau giám định.

- Một hộp giấy màu đen; hai ống thủy tinh có đầu phễu tròn; ba ống hút nhựa; một hột quẹt.

- Một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, không mở được nguồn.

Tại Bản cáo trạng số 84/CT-VKSQ11 ngày 14/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can V V N tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo V V N có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Quận 11 và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo V V N một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng.

- Tích thu tiêu hủy một hộp giấy màu đen; hai ống thủy tinh có đầu phễu tròn; ba ống hút nhựa; một hột quẹt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, tại trước nhà số 347/161 Lê Đại Hành, Phường 3, Quận 11, bị cáo V V N đã có hành vi cất giữ một gói nylon chứa chất ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,4947g, loại Methamphetamine.

Bị cáo V V N khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 07/8/2023.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4947 gam (không phẩy bốn chín bốn bảy gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một hộp giấy màu đen, hai ống thủy tinh có đầu phễu tròn, ba ống hút nhựa, một hột quẹt là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo N, không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét giải quyết trả lại cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo V V N, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên Thiên là người đã trao đổi ma túy để lấy điện thoại của bị cáo N, do chưa xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét để xử lý đối với tên Thiên.

Tại phiên tòa, bị cáo khai trước đây từng được một người tên là Vĩnh nhà ở huyện Bắc Phong, thành phố Hải Phòng (không biết số nhà vì ở vùng nông thôn) mua giúp ma túy cho bị cáo sử dụng. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét để xử lý đối với tên Vĩnh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo V V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo V V N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 93/LNK-ĐCSMT ngày 02/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu, tiêu hủy một hộp giấy màu đen, hai ống thủy tinh có đầu phễu tròn, ba ống hút nhựa, một hột quẹt (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 77/LNK-ĐCSMT ngày 11/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Trả lại cho bị cáo V V N một điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 77/LNK-ĐCSMT ngày 11/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ