- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Á phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấ…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH T ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt C.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh H.
2. Ông Trần Hữu L.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc A – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với:
Bị cáo: PHÙNG VĂN A – Sinh ngày: 12-9-1975 tại huyện S, tỉnh T.
Nơi cư trú: Thôn LL, xã TT, huyện S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phùng Văn L (Đã chết); Con bà: Dương Thị T – Sinh năm: 1935; Vợ: Nông Thị S – Sinh năm: 1974; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32/2023/HS-ST ngày 13-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phùng Văn T – Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn LL, xã TT, huyện S, tỉnh T. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Hà Văn H1 – Sinh năm: 1958; Địa chỉ: Thôn LL, xã TT, huyện S, tỉnh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07-4-2023, bị cáo Phùng Văn A đang ở quán bán hàng tạp hoá tại gia đình của mình thì có một người đàn ông khoảng 50 tuổi (bị cáo A không quen biết), đi xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu sơn đỏ (không xác định được biển số đăng ký) đến dựng xe ở trước cửa quán rồi vào mua nước uống và nhờ bị cáo A nấu cho 01 bát mỳ tôm. Sau đó, người đàn ông hỏi bị cáo A có mua rắn không? Bị cáo A thấy trên xe mô tô của người đàn ông có 01 bao tải dứa màu xanh trắng và 02 túi cước màu vàng đục được buộc bằng dây rừng. Bị cáo A hỏi rắn gì? Người đàn ông nói vừa đi bẫy được 03 con rắn hổ mang phì. Do thấy người đàn ông nói không đủ tiền trả tiền mỳ tôm, nước uống và mua xăng, nên bị cáo A nói nếu bán rẻ thì cháu mua. Người đàn ông đó ra xách 03 túi, bên trong mỗi túi có 01 con rắn vào nói cả 03 con khoảng hơn 03kg, giá 1.100.000 đồng. Bị cáo A đồng ý mua. Sau khi trừ 14.000 đồng tiền nước uống, mỳ tôm, bị cáo A trả cho người đàn ông đó 1.086.000 đồng. Sau đó, bị cáo A mang 03 túi đựng 03 con rắn vào để trong vườn. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo A đến nhà ông Hà Văn H1 (anh rể của bị cáo A) mượn chiếc xe mô tô Honda BLADE, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 22B2 - 037.15 để đem số rắn trên đi bán kiếm lời. Bị cáo A cho 03 túi rắn vào trong chiếc hộp catton có in chữ STING để ở phần yếm xe mô tô. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo A đi đến đoạn đường thuộc thôn Tân Tiến, xã TT, huyện S, tỉnh T (cách quốc lộ 2C khoảng 50m), khi đang dừng xe, thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh T kiểm tra (xác minh nguồn tin về tội phạm) phát hiện 03 cá thể rắn không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Tổ công tác đã yêu cầu bị cáo A đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã TT, huyện S, tỉnh T lập biên bản làm việc, thu giữ và niêm phong 03 cá thể rắn theo quy định.
Kết luận giám định động vật số: 482/STTNSV ngày 10-4-2023 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận:
- Xác định tên loài động vật: 01 (một) cá thể động vật còn sống trong bao tải dứa màu trắng xanh (ký hiệu 01) là loài Rắn hổ mang Trung Quốc, có tên khoa học là Naja atra, thuộc lớp Bò sát; 01 (một) cá thể động vật còn sống trong túi lưới màu vàng nhạt (ký hiệu 02) là loài Rắn hổ mang Trung Quốc, có tên khoa học là Naja atra, thuộc lớp Bò sát; 01 (một) cá thể động vật còn sống trong túi lưới màu vàng nhạt (ký hiệu 03) là loài Rắn hổ chúa, có tên khoa học là Ophiophagus, thuộc lớp Bò sát.
- Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật: Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Rắn hổ mang Trung Quốc có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Vật chứng thu giữ: Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh T đã thu giữ:
- 01 (một) bao tải dứa màu trắng xanh (ký hiệu số 01) được buộc bằng dây rừng bên trong chứa 01 (một) cá thể rắn (nghi là rắn hổ mang phì) còn sống, trọng lượng 1,5kg (được niêm phong theo quy định).
- 01 (một) túi cước màu vàng nhạt (ký hiệu số 02) được buộc thắt nút, bên trong chứa 01 (một) cá thể rắn (nghi là rắn hổ mang phì) còn sống, có trọng lượng 01kg (được niêm phong theo quy định).
- 01 (một) túi cước màu vàng nhạt (ký hiệu số 03) được buộc bằng dây rừng bên trong chứa 01 (một) cá thể rắn (nghi là rắn hổ mang Chúa) còn sống, có trọng lượng 1,3kg (được niêm phong theo quy định).
- 01 (một) hộp bìa carton màu đỏ có ghi chữ STING nước tăng lực.
- 01 (một) xe mô tô, màu sơn đỏ đen, nhãn hiệu Honda, biển số 22B2 - 037.15 số khung: 3611EY150078, số máy: JA36E0292394, số loại: BLADE đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 047892 tên chủ xe: Phùng Văn T - Sinh năm 1989; Địa chỉ: LL, Thanh Phát, S, T; nhãn hiệu HONDA, biển số đăng ký: 22B2-037.15.
- 01 (một) Chứng minh nhân dân số 070546063 họ tên: Phùng Văn A.
- 01 (một) máy điện thoại di động OPPO màu xanh da trời, bên trong máy được lắp 02 (hai) sim nhà mạng Viettel; tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Được tiến hành niêm phong trong 01 (một) hộp bìa carton, trên giấy niêm phong có chữ ký của Phùng Văn A, các thành phần tham gia và 01 (một) hình dấu tròn của Phòng cảnh sát PCTP về môi trường, Công an tỉnh T.
Ngày 10-4-2023, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh T đã chuyển 03 cá thể động vật nêu trên cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội để quản lý, cứu hộ.
Ngày 15-4-2023, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh T đã chuyển các đồ vật, tài liệu còn lại đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T để bảo quản theo quy định.
Ngày 12-5-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T đã trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, màu sơn đỏ đen, biển số 22B2-037.15 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phùng Văn Thuỷ.
Tại cáo trạng số: 86/CT-VKS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T quyết định truy tố đối với bị cáo Phùng Văn A về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phùng Văn A. Đưa ra chứng cứ đA giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Phùng Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phùng Văn A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Giao bị cáo Phùng Văn A cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện S, tỉnh T nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phùng Văn A.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- 01 Hộp bìa cát tông màu đỏ có ghi chữ STING nước tăng lực.
- 01 Bao tải dứa màu xanh.
- 02 Túi cước màu vàng nhạt.
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn A tài sản không phải là vật chứng:
- 01 Chứng minh nhân dân số 070546063 mang tên Phùng Văn A.
- 01 Chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh da trời kiểu máy CPH2083; số seri: CQHIHUHAZDHEH6G6 bên trong máy được lắp 02 sim của mạng Viettel. Tình trạng đã qua sử dụng, máy không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phùng Văn T tài sản không phải là vật chứng:
01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047892, biển số đăng ký 22B2 – 037.15.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh T).
Đối với 02 cá thể Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra và 01 cá thể Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus đã gửi đến Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Tiếp tục giao cá thể rắn nói trên cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với chị cáo Phùng Văn A.
Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Văn A nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Phùng Văn A đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với kết luận giám định, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07-4-2023 tại đoạn đường thuộc thôn Tân Tiến, xã TT, huyện S, tỉnh T, bị cáo Phùng Văn A đã có hành vi mua, vận chuyển 01 (một) cá thể Rắn hổ chúa, có tên khoa học là Ophiophagus, thuộc lớp Bò sát, có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ và có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Mục đích mua, vận chuyển để bán kiếm lời.
Bị cáo Phùng Văn A là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến động vật nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ. Cá thể động vật bị cáo vận chuyển là loài rắn Hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus (thuộc Phụ lục I, danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ). Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phùng Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Phùng Văn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bố đẻ của bị cáo là ông Phùng Văn Lý được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phùng Văn A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Phùng Văn A làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến việc bảo tồn, duy trì và phát triển động vật hoang dã, quý, hiếm, làm ảnh hưởng tới môi trường chung của toàn xã hội. Bảo vệ động vật quý hiếm là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Nhiều loài động vật đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng. Hiện tại, trên thế giới còn khoảng 1.556 loài động vật quý hiếm được xác định là đang có nguy cơ tuyệt chủng và gần tuyệt chủng nên cần được bảo vệ cấp bách. Việc bảo vệ động vật quý hiếm trong tự nhiên là vấn đề rất cần thiết. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung tội phạm này theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Phùng Văn A có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, địa chỉ cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX nhận thấy không cần dùng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Văn bản hợp nhất số: 02/VBHP-TANDTC ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng:
Đối với hộp bìa carton màu đỏ có ghi chữ STING nước tăng lực; bao tải dứa màu trắng xanh và túi cước màu vàng nhạt đã qua sử dụng là những vật chứng để đựng cá thể Rắn hổ chúa và cá thể Rắn hổ mang Trung Quốc trong quá trình vận chuyển. HĐXX xét thấy những vật chứng trên không còn giá trị sử dụng; bị cáo cũng không có đề nghị gì đối với những vật chứng trên nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- 01 hộp bìa carton màu đỏ có ghi chữ STING nước tăng lực.
- 01 bao tải dứa màu xanh.
- 02 túi cước màu vàng nhạt.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Phùng Văn A đều khai nhận 01 chiếc máy điện thoại di động OPPO màu xanh da trời, bên trong máy được lắp 02 sim nhà mạng Viettel là tài sản của bị cáo A. Đây là phương tiện liên lạc hàng ngày bị cáo. Bị cáo cũng không chuyên sử dụng chiếc điện thoại vào việc trao đổi mua bán, vận chuyển cá thể động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Do vậy, chiếc điện thoại nói trên không phải là công cụ dùng vào việc phạm tội và cần trả lại cho bị cáo Phùng Văn A quản lý, sử dụng.
Đối với Chứng minh nhân dân số 070546063 mang tên Phùng Văn A, HĐXX xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phùng Văn A quản lý, sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn A tài sản không phải là vật chứng:
- 01 Chứng minh nhân dân số 070546063 họ tên: Phùng Văn A.
- 01 Điện thoại di động OPPO màu xanh da trời, bên trong máy được lắp 02 sim nhà mạng Viettel; tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Được tiến hành niêm phong trong 01 hộp bìa carton, trên giấy niêm phong có chữ ký của Phùng Văn A, các thành phần tham gia và 01 hình dấu tròn của Phòng cảnh sát PCTP về môi trường, Công an tỉnh T.
Đối với chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047892, biển số đăng ký 22B2 – 037.15 là tài sản của anh Phùng Văn T. Khi bị cáo A mượn xe mô tô biển số đăng ký 22B2-037.15 của ông H1, bị cáo không nói với ông H1, anh T việc bị cáo mượn xe để vận chuyển cá thể Rắn và ông H1, anh T cũng không biết sự việc bị cáo mượn xe để đi vận chuyển cá thể Rắn. Do vậy, chứng nhận đăng ký xe mô tô nói trên không phải là vật chứng vụ án, cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phùng Văn T tài sản không phải là vật chứng:
01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047892, biển số đăng ký 22B2 – 037.15.
Đối với cá thể rắn Hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus đã gửi đến Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội tiếp nhận, nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy cần thiết phải bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm nên tiếp tục giao cá thể rắn nói trên cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với chiếc mô tô biển số đăng ký 22B2-037.15, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phùng Văn Thuỷ. Anh T không có đề nghị gì. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: HĐXX xét thấy, bị cáo Phùng Văn A thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, HĐXX quyết định miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phùng Văn A.
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị can, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông bán 03 cá thể rắn cho bị cáo Phùng Văn A. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
- Đối với hành vi bị cáo Phùng Văn A mua, vận chuyển 02 (hai) cá thể rắn hổ mang Trung Quốc còn sống, có tên khoa học là Naja atra có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện S, tỉnh T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Ngày 09-6-2023, Trưởng Công an huyện S, tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 174/QĐ-XPHC đối với bị cáo Phùng Văn A về hành vi nói trên, xử phạt tiền số tiền 3.000.000đ (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tiền).
- Đối với ông Hà Văn H1 và anh Phùng Văn T không biết bị cáo Phùng Văn A mượn xe mô tô để vận chuyển 03 cá thể rắn đem bán kiếm lời nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Xử phạt bị cáo Phùng Văn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 29-6-2023).
Giao bị cáo Phùng Văn A về Ủy ban nhân dân xã TT, huyện S, tỉnh T nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- 01 Hộp bìa cát tông màu đỏ có ghi chữ STING nước tăng lực.
- 01 Bao tải dứa màu xanh.
- 02 Túi cước màu vàng nhạt.
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn A tài sản không phải là vật chứng:
- 01 Chứng minh nhân dân số 070546063 mang tên Phùng Văn A.
- 01 Chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh da trời kiểu máy CPH2083; số seri: CQHIHUHAZDHEH6G6 bên trong máy được lắp 02 sim của mạng Viettel. Tình trạng đã qua sử dụng, máy không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phùng Văn T tài sản không phải là vật chứng:
01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047892, biển số đăng ký 22B2 – 037.15.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh T).
Đối với 02 cá thể Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra và 01 cá thể Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus đã gửi đến Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Tiếp tục giao cá thể rắn nói trên cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phùng Văn A.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29-6-2023).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện S; - VKSND tỉnh T; - Công an huyện S; - Tòa án nhân dân tỉnh T; - Sở tư pháp tỉnh T; - Chi cục THADS huyện S; - Lưu hs, hstha, vp. | T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Việt C |