- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Mua bán TP chất MT. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
| HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Qu c Tu n và ng Nguyễn H i Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Th m tra vi n Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát vi n.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý s : 76/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 (Sau đây viết tắt là: 27/11/2023) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 80/2023/QĐXXST-HS ngày 18/12/2023, đ i với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 tại Hà Nam; nơi cư trú: Th n T xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; qu c tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Trần Thị T (t n gọi khác Trần Thị T1); vợ: Hoàng Thị Thanh P (Đã ly h n), con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Ngày 13/10/2000, C ng an quận Đ ng Đa, thành ph Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
+ Ngày 29/12/2000, C ng an quận Ba Đình, thành ph Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+ Ngày 18/8/2004, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành ph Hà Nội xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 06/10/2023 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L: Bà Phạm Thị N - Trợ giúp viên pháplýthuộc Trungtâm trợgiúppháplý Nhànướctỉnh Hà Nam ;có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
1.Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 9, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
2.Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 8, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kho ng 09 giờ ngày 26/9/2023, Nguyễn Đức H rủ Nguyễn Văn B đi mua ma túy để về cùng sử dụng, B đồng ý. Sau đó, H l y điện thoại của mình có thu bao 0963.690.821 gọi đến s điện thoại 0968.735.560 của Nguyễn Văn L ở thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam hỏi mua ma túy với s tiền 260.000 đồng, L đồng ý và hẹn H đến ngõ nhà ông T (cách nhà L kho ng 100m) để mua bán ma túy. B l y xe đạp của mình chở H đi đến điểm hẹn, còn L cầm 01 gói ma túy đi bộ từ nhà ra điểm hẹn. Đến nơi, L bỏ gói ma túy vào thứ hai của cột điện trong ngõ rồi đứng chờ. Còn B và H đi đến đầu ngõ chỗ hẹn thì B xu ng xe, H một mình đạp xe vào gặp L, tại đây H đưa cho Lĩnh s tiền 260.000 đồng, L cầm tiền rồi đi ra chỗ cột điện l y gói ma túy đã chu n bị sẵn đưa cho H, sau đó L vào một tiệm thu c tây mua 03 xi lanh rồi đi về nhà. Còn H đi ra đón B rồi c hai đi đến khu vực nghĩa trang thôn B, xã C để sử dụng ma túy nhưng B đang cai nghiện n n từ ch i sử dụng và đạp xe đi về, H vào nghĩa trang sử dụng s ma túy vừa mua, khi đang sử dụng ma túy bằng hình thức chích xong thì bị Tổ c ng tác của Đội C nh sát điều tra tội phạm về ma túy - kinh tế C ng an huyện L ph i hợp với C ng an xã C phát hiện, lập bi n b n vụ việc, thu giữ tại nền đ t cạnh vị trí Nguyễn Đức H đứng 01 m nh gi y bạc màu trắng (được ni m phong trong phong bì ký hiệu TG01); 01 xilanh nhựa màu trắng (được ni m phong trong phong bì ký hiệu TG02). Ngoài ra, còn thu giữ của Nguyễn Đức H 01 điện thoại di động (Sau đây viết tắt là ĐTDĐ) nhãn hiệu Masstel và 14 tờ vé xổ s l t Hà Nam mở thưởng ngày 25/9/2023 được ni m phong theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Đức H về nguồn g c s ma túy vừa sử dụng và tài liệu điều tra, xác minh thu thập được, Cơ quan C nh sát điều tra (Sau đây viết tắt là CSĐT) - Công an huyện Lý Nhân triệu tập Nguyễn Văn L để đ u tranh, làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép ch t ma túy cho Nguyễn Đức H nêu tr n. Cơ quan CSĐT- C ng an huyện Lý Nhân thực hiện Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp kh n c p đ i với Nguyễn Văn L và thu giữ trong túi quần b n ph i của Nguyễn Văn L 03 xilanh nhựa chưa sử dụng (được ni m phong trong phong bì ký hiệu VV02); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel (được ni m phong trong phong bì ký hiệu VV03) và s tiền 287.000đ; Khám xét kh n c p chỗ ở của Nguyễn Văn L đã thu giữ: Trong ngăn kéo bàn gỗ của kệ để tivi 03 m nh gi y bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng đều có KT(3x3)cm (được ni m phong trong phong bì ký hiệu KX01); 01 túi nilon màu trắng KT(6x12)cm (được ni m phong trong phong bì ký hiệu KX02); 03 m nh gi y bạc màu trắng kh ng rõ hình (được ni m phong trong phong bì ký hiệu KX03); thu trong ví gi da 03 m nh gi y (loại gi y lịch) kh ng rõ hình trên các mặt gi y đều có chữ mực xanh ghi các chữ s tự nhi n (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX04); 01 lưỡi dao lam đã qua sử dụng (ni m phong trong phong bì ký hiệu KX05).
* Đ i với chiếc xe đạp Nguyễn Văn B sử dụng làm phương tiện chở Nguyễn Đức H đi mua ma túy theo B khai chiếc xe tr n đã bị hỏng n n bán cho một người bu n đồng nát (kh ng rõ nhân thân) n n kh ng thu giữ được
* Ngày 26/9/2023, Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân đã đưa Nguyễn Đức H, Nguyễn Văn L đi xét nghiệm tại Trung tâm y tế huyện L. Kết qu : Nguyễn Đức H, Nguyễn Văn L đều dương tính với ch t ma túy.
* Ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân tiến hành thu giữ mẫu tế bào ni m mạc miệng của Nguyễn Văn L (ký hiệu NM01) và Nguyễn Đức H (ký hiệu NM02) đồng thời ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C ng an giám định AND của các đ i tượng trong mẫu vật được ni m phong trong phong bì ký hiệu TG01 đã thu giữ.
Tại b n kết luận s 7077/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ C ng an, kết luận: “Trên mảnh giấy bạc màu trắng (ký hiệu TG01) gửi giám định có bám dính AND người. Phân tích và so sánh kiểu gen thu được từ dấu vết AND này cho thấy trùng khớp với kiểu gen thu được từ mẫu ghi tế bào niêm mạc miệng thu của Nguyễn Văn L (ký hiệu NM01) và kiểu gen thu được từ mẫu ghi tế bào niêm mạc miệng thu của Nguyễn Đức H (ký hiệu NM02)”.
* Ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C ng an giám định ch t ma túy trong mẫu vật được ni m phong trong phong bì ký hiệu TG01 đã thu giữ của Nguyễn Đức H.
Tại b n kết luận giám định s 7103/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ C ng an kết luận: “Chất màu trắng bám dính trên mảnh giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin). Lượng mẫu bám dính rất nhỏ do đó không xác định được khối lượng chất bám dính”.
* Ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hà Nam giám định ch t ma túy tại các mẫu vật trong phong bì ni m phong ký hiệu TG02; KX01; KX02; KX03; KX05 đã thu giữ của Nguyễn Đức H và Nguyễn Văn L.
Tại b n kết luận giám định s 686/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hà Nam, kết luận: “01 xi lanh nhựa trong phong bì ký hiệu TG02 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine; 03 mảnh giấy bạc trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine; 01 túi nilon màu trắng trong phong bì ký hiệu KX02 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine; 03 mảnh giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu KX03 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine; 01 dao lam trong phong bì ký hiệu KX05 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine”.
* Nguyễn Văn L khai về nguồn g c s Heroine bị thu giữ: Chiều ngày ngày 25/9/2023 đi bộ đến khu vực cầu Châu Giang thuộc xã C, huyện L gặp và mua được của một người đàn ng (kh ng rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy loại Heroine với s tiền 200.000 đồng, sau đó Lĩnh trích một phần ra để sử dụng. Đến sáng ngày 26/9/2023, khi Nguyễn Đức H hỏi mua ma túy thì L bán s ma túy còn lại cho H để kiếm lời.
* Về vật chứng: 03 m nh gi y (loại gi y lịch) tr n các mặt có ghi các s tự nhiên, thu giữ của Nguyễn Văn L và 14 tờ vé xổ s l t Hà Nam đã thu giữ của Nguyễn Đức H (không trúng thưởng) đều không liên quan đến hành vi phạm tội được chuyển theo hồ sơ vụ án; s Heroine và các mẫu vật hoàn tr sau giám định được ni m phong trong 01 phong bì có s 7103/KL-KTHS; 05 phong bì có s 686/KTHS lần lượt ghi “Mẫu vật hoàn trả TG02”; “Mẫu vật hoàn trả KX01”; “Mẫu vật hoàn trả KX02”; “Mẫu vật hoàn trả KX03”; “Mẫu vật hoàn trả KX05” và 03 xi lanh là những c ng cụ dùng để sử dụng ma túy; 02 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Itel và Masstel đã thu giữ, tài liệu điều tra xác định là tài s n hợp pháp của Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức H sử dụng làm phương tiện li n hệ để mua bán trái phép ch t ma túy; s tiền 287.000đ thu giữ của Nguyễn Văn L trong đó có 260.000đ là tiền L bán trái phép ch t ma túy cho Nguyễn Đức H mà có, s tiền còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội. T t c vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.
C ng an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hìnhthức“Cảnh cáo” đ ivới Nguyễn ĐứcHvềhànhvisử dụngtráiphép ch t ma túy.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.
Tại b n cáo trạng s 79/CT-VKSLN ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy t Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại kho n 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự (Sau đây viết tắt là BLHS).
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy t đ i với bị cáo như b n cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt Nguyễn Văn L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo, đồng thời đề xu t hướng xử lý vật chứng của vụ án.
- Bị cáo Nguyễn Văn L đã khai báo toàn bộ diễn biến hành vi mua bán trái phép ch t ma túy của b n thân cụ thể về thời gian, địa điểm, cách thức, động cơ và mục đích phạm tội vào sáng ngày 26/9/2023 cơ b n đúng như nội dung b n cáo trạng đã m t và kh ng có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo kh ng có ý kiến gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng của cơ quan, người có tiến hành t tụng, các b n kết luận giám định cũng như lời khai của những người tham gia t tụng khác và đề nghị HĐXX xem xét gi m nhẹ hình phạt.
- Ng êi bµo ch÷a cho bị cáo tr×nh bÇy: Kh«ng cã ý kiÕn tranh luËn vÒ téi danh vµ ®iÒu luËt mà Viện kiểm sát đã truy t ®èi víi bÞ c¸o, đồng thời phân tích c¸c t×nh tiÕt gi¶m nhÑ còng nh ®iÒu kiÖn, hoµn c¶nh cña Nguyễn Văn L (bị cáo thuộc hộ cận nghèo, vợ chồng đã ly h n, hiện đang nu i con ăn học) ®Ò nghÞ H§XX xem xét áp dụng ®iÓm s kho¶n 1 và kho n 2 ĐiÒu 51 BLHS ®Ó gi¶m nhÑ h×nh ph¹t cho bị cáo dưới mức th p nh t đề nghị của Viện kiểm sát tại phi n tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đ i với các hành vi, quyết định t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Điều tra viên, Kiểm sát vi n trong các giai đoạn t tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc t tụng cũng như đ m b o việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phi n tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại bi n b n vụ việc, vật chứng thu giữ, các b n kết luận giám định, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người tham gia t tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, ph n ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Kho ng 09 giờ 30 phút ngày 26/9/2023, tại th n T, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn L đã bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine cho Nguyễn Đức H với s tiền 260.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Đức H mang s ma túy mua được đến khu vực nghĩa trang nhân dân thuộc thôn B, xã C để sử dụng. Khi H vừa sử dụng xong thì bị phát hiện, bắt qu tang.
Hành vi n u tr n của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại kho n 1 Điều 251 BLHS.
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, kh ng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền qu n lý đặc biệt của Nhà nước đ i với ch t ma tuý mà còn gây m t an ninh trật tự tại địa phương, nh hưởng x u đến kỷ cương pháp luật, chu n mực đạo đức l i s ng và là tác nhân chính làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người ở độ tuổi nhận thức rõ về pháp luật, đã có gia đình, nhưng lại kh ng gương mẫu, thiếu ý thức trong rèn luyện, thể hiện l i s ng tự do, bu ng th n n đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Xét th y, cần ph i xử lý nghi m minh, áp dụng hình phạt tù nghi m khắc đ i với bị cáo mới có tác dụng c i tạo bị cáo trở thành công dân t t, cũng như đáp ứng c ng tác phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng, nh t là tội phạm về ma túy đang diễn ra phức tạp hiện nay tại địa phương.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân x u; năm 2000 đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; năm 2004 bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã được xóa án tích.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không ph i chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phi n tòa bị cáo đều thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của b n thân, thể hiện sự ăn năn h i c i trước pháp luật; có b đẻ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến ch ng Mỹ hạng Ba; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo; nên bị cáo được hưởng các tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc tình tiết này để gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo y n tâm c i tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội, cũng như th y được tính nhân đạo của pháp luật đ i với người phạm tội.
Xét th y cần tiếp tục tạm giam đ i với bị cáo để đ m b o thi hành án hình sự, nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật t tụng hình sự .
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào điều kiện và hoàn c nh thực tế hiện nay của bị cáo (Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, b n thân kh ng có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, lại đang nu i con ăn học) n n xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đ i với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- S Heroine và các mẫu vật hoàn tr sau giám định được ni m phong trong 01 phong bì có s 7103/KL-KTHS; 05 phong bì có s 686/KTHS lần lượt ghi “Mẫu vật hoàn trả TG02”; “Mẫu vật hoàn trả KX01”; “Mẫu vật hoàn trả KX02”; “Mẫu vật hoàn trả KX03”; “Mẫu vật hoàn trả KX05” và 03 xi lanh được ni m phong trong phong bì ký hiệu VV02. Đây là ch t Nhà nước c m lưu hành và là c ng cụ dùng để sử dụng ma túy, nên tịch thu và ti u huỷ.
- 02 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Itel và Masstel (đều còn giá trị sử dụng) được xác định là tài s n hợp pháp của Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức H sử dụng làm phương tiện li n hệ để mua bán trái phép ch t ma túy; trong s tiền 287.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn L xác định có s tiền 260.000 đồng do L bán ma túy cho Long mà có. Do đó, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc ĐTDĐ và s tiền 260.000 đồng n u trên. S tiền 27.000 đồng còn lại là tài s n của Nguyễn Văn L kh ng li n quan đến việc phạm tội, n n tr lại bị cáo, nhưng tiếp tục qu n lý để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân sự.
- Đ i với 03 m nh gi y (loại gi y lịch) tr n các mặt có ghi các s tự nhi n, thu giữ của Nguyễn Văn L và 14 tờ vé xổ s l t Hà Nam thu giữ của Nguyễn Đức H (không trúng thưởng) không liên quan đến tội phạm được lưu theo hồ sơ vụ án. HĐXX kh ng đề cập.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo ph i nộp theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác:
- Đ i với Nguyễn Đức H đã có hành vi mua trái phép ch t ma túy của Nguyễn Văn L, sau đó đã sử dụng hết. Do không xác định được kh i lượng ma túy cũng như xem xét nhân thân của H, n n C ng an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “C nh cáo” đ i với Nguyễn Đức H về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy và Nguyễn Văn B là người chở H đi mua ma túy, nhưng kh ng sử dụng ma túy cùng H, n n C ng an huyện Lý Nhân kh ng xử lý đ i với anh B là phù hợp pháp luật.
- Đ i với đ i tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn L do chỉ có duy nh t lời khai của bị cáo, ngoài ra không có b t cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về nhân thân, lai lịch của đ i tượng này n n Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân kh ng có căn cứ xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX kh ng đề cập.
- Đ i với việc c t giữ 03 xilanh mục đích để sử dụng ch t ma túy, do chưa đủ định lượng và b n thân Nguyễn Văn L cũng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi vi phạm hoặc tội phạm li n quan đến tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 254 BLHS n n Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Lý Nhân kh ng đặt ra xử lý là có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Tuyênbố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm, 09 (chín) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2023.
[2] Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (một) Phong bì niêm phong s 7103/KL-KTHS của Viện khoa học hình sự - Bộ C ng an, tình trạng ni m phong còn nguy n vẹn.
+ 05 (năm) Phong bì ni m phong s 686/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hà Nam, ghi lần lượt là " Mẫu vật hoàn tr TG02", " Mẫu vật hoàn tr KX01"," Mẫu vật hoàn tr KX02", " Mẫu vật hoàn tr KX03" và " Mẫu vật hoàn tr KX05", tình trạng ni m phong còn nguy n vẹn;
+ 01 (một) Phong bì ni m phong ký hiệu VV02, ghi vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L, của C ng an xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam, tình trạng ni m phong còn nguy n vẹn;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel vỏ ngoài màu đen, loại bàn phím b m, s IMEI 1: 358460086555806; 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Itel, mặt nhựa p sau điện thoại bị vỡ, có s IMEI 1: 352019113506624 và s tiền 260.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L: S tiền 27.000 đồng, nhưng tiếp tục qu n lý để b o đ m nghĩa vụ thi hành án dân sự.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 2711/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân; Số tiền xử lý nêu trên hiện đang gửi giữ tại ủy nhiệm chi số 18 lập ngày 29/11/2023 trong tài khoản số 3949.0.1036366 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân tại Kho bạc Nhà nước huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).
[3] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L ph i nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Án xử c ng khai sơ th m, bị cáo được quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuy n án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt được quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc ngày b n án được ni m yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND t i cao (Vụ Giám đ c kiểm tra I); - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại giam CA tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS C ng an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; đương sự; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Văn An |