- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày 23 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
- Thành phần H đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thiên Hương
Các H thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Thoại
Ông Vũ Minh Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 N 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 N 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số xx/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 N 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh N 1964; HKTT: Xóm 9, thôn T, xã M, huyện L, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn M, sinh N 1933 (đã chết 2014) và con bà Bùi Thị Q, sinh N 1935; Họ tên vợ: Bùi Thị N, sinh N 1965 (đã ly hôn 2007), có 02 con: lớn sinh N 1991, nhỏ sinh N 2008; Tiền án, tiền sự theo Danh chỉ bản số 82 ngày 09/01/2023 Không; Nhân thân có 01 tiền án bản án số 03/HSST ngày 05/4/2002 của Tòa án quân sự quân khu 2 xử phạt 40 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 01/5/2004, chấp hành xong án phí và biện pháp tư pháp khác ngày 24/8/2001.
Bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến ngày 09/01/2023 hủy bỏ tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04/01/2023, N điều khiển xe máy Honda Lead BKS: 29N1-670.xx từ Q, K sang khu vực đầu thôn H, B, K gặp 01 người đàn ông đứng ở vệ đường, N đi xe máy đến thì người đàn ông hỏi “có mua hàng không?”. N hiểu là mua ma túy Heroine nên N đồng ý và đưa cho người đàn ông trên số tiền 150.000 đồng, người đàn ông đưa N 01 gói ma túy màu trắng, N cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần đằng trước bên trái và điều khiển xe máy đi ra hướng chợ Vàng, B, K. Khi ra đến khu vực đầu thôn H, B thì N bị lực lượng công an kiểm tra và thu giữ vật chứng là 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng. N khai nhận là ma túy loại Heroine mua về để sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 263/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,128 gam.
Bản cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên Tòa: Lê Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do bị bệnh hen suyễn nhiều N, chung sống với thuốc hàng ngày nhưng vẫn khó thở và mệt, nên N mua Heroine về dùng mục đích là để đỡ mệt, N sử dụng ma túy từ tháng 3/2022. Ngày 04/01/2023 N dùng 150.000 đồng là tiền do lao động mà có để mua Heroine về sử dụng thì bị bắt. Bản thân vợ đã ly hôn bỏ đi, để lại hai con, hai con tự nuôi nhau, bị cáo không phải nuôi con nào do bệnh tật, không có nghề nghiệp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Văn N có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung N 2017. Đề nghị H đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS xử phạt N từ 14 đến 18 tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến ngày 09/01/2023. Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng. Về vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,114 gam Heroine hoàn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 7 lắp số sim 0979558162 của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội:
- Xét bị cáo N bị bắt quả tang, thu giữ Heroine, đã được giám định theo quy định của pháp luật có khối lượng 0,128 gam. Tại phiên tòa bị cáo N thừa nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ khác gồm Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, đủ cơ sở kết luận bị cáo N có hành vi tàng trữ 0,128 gam Heroine để sử dụng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm khách thể được Nhà nước bảo vệ là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS, quy định loại ma túy Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, về bản thân có bệnh hen suyễn phải chung sống với thuốc thường xuyên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Nhân thân bị cáo có 01 tiền án N 2002, đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, không tiếp tục tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân tốt mà lao vào con đường nghiện ngập, nên cần cách ly bị cáo N ra khỏi xã H một thời gian trong khung hình phạt để tiếp tục giáo dục bị cáo và răn đe chung, tuy nhiên khi lượng hình HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, bệnh tật, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
+ 0,114 gam hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cho tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động Iphone 7 lắp sim số 0979558162 đã qua sử dụng của bị cáo, bị cáo N không không sử dụng để phạm tội trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
. Về các vấn đề khác:
+ Đối với đối tượng bán ma túy cho N, do không xác định được nhân thân, cơ quan điều tra chưa làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.
+ Đối với 01 xe máy Honda Lead BKS: 29N1-670.xx thu giữ của Lê Văn N có chủ đăng ký xe là Bùi Thị Lan, sinh N: 1969, HKTT: TDP Bình Minh, Q, K, Hà Nội. Ngày 04/01/2023 chị Lan cho N mượn xe đi việc cá nhân, không biết N sử dụng xe vào việc phạm tôi, Cơ quan CSĐT – Công an huyện K ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho chị Bùi Thị Lan chiếc xe máy BKS: 29N1-670.xx là có căn cứ, HĐXX không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 106; Các Điều 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 13 (Mười ba) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/01/2023 đến ngày 09/01/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không
Về vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,114 gam Heroine.
+ Trả lại bị cáo Lê Văn N 01 điện thoại di động Iphone 7 lắp sim số 0979558162
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2023 của Chi cục THADS huyện K).
Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo N có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - BÞ c¸o; - TAND TP Hµ Néi; - VKSND TP Hà Nội; - C«ng an huyÖn Gia L©m; - VKSND huyÖn Gia L©m; - Chi cục THADS huyÖn Gia L©m; - L u hå s¬ vô ¸n; - Lưu văn phòng. | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thiên Hương |