- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn K "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày: 12-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Công Danh;
Bà Dương Thị Sáu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Tấn K, sinh năm: 1998 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ, sinh năm: 1978 và bà Huỳnh Thị Thanh L, sinh năm: 1978; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không có
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Văn D, sinh năm: 1976. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
2. Trần Thái K1, sinh năm: 1996. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Người chứng kiến:
1. Huỳnh Thị G, sinh năm: 1952. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
1. Danh Hoàng D1, sinh ngày: 2003. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 10/4/2023, Lê Tấn K là đối tượng nghiện ma túy điều khiển xe mô tô loại Sirius, màu đỏ - đen gắn Biển số 70F3-9051 chạy đến khu vực Ngã 3 Giồng thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, K gặp người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 05 gói ma túy được bọc trong nylon hàn kín 02 đầu và 01 túi ma túy đựng bằng nylon có rãnh khép viền đỏ với giá 300.000 đồng. Sau khi mua và trả tiền xong, K cất ma túy vào cốp xe chạy về nhà ở Ấp A, xã L, huyện B để dành sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 05 phút ngày 11/4/2023, Công an xã L tiến hành kiểm tra xe mô tô gắn Biển số 70F3-9051 thì phát hiện trong cốp xe, K cất giấu số ma túy nêu trên, lực lượng Công an xã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ: 05 gói nylon hàn kín và 01 túi nylon có rãnh khép viền đỏ chứa tinh thể màu trắng và được niêm phong; 01 xe mô tô loại Sirius, màu đỏ - đen gắn Biển số 70F3-9051, số khung RLCS5C640CY783899, số máy 5C64783904.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Tấn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng dựng trong 05 gói ma túy được hàn kính và 01 gói nylon có rãnh kép viền đỏ, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1207 gam, loại: Methamphetamine; H lại đối tượng giám định là ma túy có khối lượng 0,9306 được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 342.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Tấn K không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định này.
Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSBL, ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lê Tấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Lê Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tấn K mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,9306 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 342.
Đối với xe mô tô loại Sirius, màu đỏ - đen gắn Biển số 70F3-9051, số khung RLCS5C640CY783899, số máy 5C64783904, qua kiểm tra xe có Biển số thật 62G1-056.94 do ông Nguyễn Văn D đứng tên giấy chứng nhận cho Trần Thái K1 (là cháu ông D) mượn chở chanh thì bị rớt biển số, K1 nhặt Biển số 70F3-9051 gắn vào xe. Ngày 10/4/2023, K1 cho K mượn xe về nhà. K sử dụng xe mua và cất giấu ma túy thì K1 và ông D không biết, hiện tại cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông D. Đối với Biển số xe 70F3-9051 chưa xác định được chủ sở hữu, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ xử lý sau là phù hợp.
Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai của họ, việc vắng mặt những người này không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với tất cả các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 10/4/2023, do cần ma túy để sử dụng nên K điều khiển xe mô tô đến Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mua 1,1207 gam ma túy, loại Methamphetamine và bỏ vào trong cốp xe rồi chạy về nhà ở Ấp A, xã L, huyện B. Đến 09 giờ 05 phút ngày 11/4/2023, lực lượng Công an kiểm tra xe bắt quả tang cùng tang vật. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Chất ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, Nhà nước quy định về quản lý các chất ma túy rất nghiêm ngặt. Vi phạm các quy định về chế độ quản lý chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, mà còn gây ra những thiệt hại rất to lớn cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công dân. Hậu quả của việc vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma túy là đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử lý bị cáo nghiêm khắc.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại trại giam P được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”; bị cáo được tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” do có thành tích tốt trong phong trào thi đua Quyết thắng năm 2019, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết như phân tích ở trên, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, mới có tác dụng giáo dục được bị cáo và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt chính đối với bị cáo là nghiêm khắc, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra bị cáo cung cấp thông tin đối với người thanh niên trên chưa đủ cơ sở để xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng:
Đối với xe mô tô loại Sirius, màu đỏ - đen gắn Biển số 70F3-9051, số khung RLCS5C640CY783899, số máy 5C64783904, qua kiểm tra xe có Biển số thật 62G1-056.94 do ông Nguyễn Văn D đứng tên giấy chứng nhận, ông D cho Trần Thái K1 (là cháu ông D) mượn chở chanh thì bị rớt biển số, K1 nhặt Biển số 70F3-9051 gắn vào xe. Ngày 10/4/2023, K1 cho K mượn xe về nhà. K sử dụng xe đi mua và cất giấu ma túy thì K1 và ông D không biết, hiện tại cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông D. Đối với Biển số xe 70F3-9051 chưa xác định được chủ sở hữu, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ xử lý sau là phù hợp.
Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,9306 gam, đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Tấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn K 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 11/4/2023.
Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tấn K 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,9306 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 342.
Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức theo Quyết định chuyển vật chứng số 52/QĐ-VKSBL ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức.
- Về án phí: Căn cứ vào các Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Buộc bị cáo Lê Tấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Bến Lức; - Cơ quan CSĐT CA huyện Bến Lức; - Chi cục THADS huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ; án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thanh Lâm |