vanban.org

Bản án 83/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 7 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH Ắ N NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản n số: 83/2023/HS-PT
Ngày 03 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N N T NH Ắ N NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng

Các Thẩm phán: Ông Lê Quốc Hương và ông Võ Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An - Thư Toà n nh n n t nh Đ Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên

Ngày 03 th ng 11 năm 2023 tại tr s Toà n nh n n t nh Đ Nông xét xử ph c th m công khai v án hình sự th lý số 110/2023/TLPT-HS ngày 23 th ng 10 năm 2023, đối với Trần Xuân T do có kháng cáo của ị c o đối với Bản án hình sự sơ th m số 49/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huy n Đ k Mil.

Bị cáo c kháng cáo: Trần Xuân T, sinh năm 1992 tại t nh Bến Tre; nơi cư tr : ấp H, xã H, huy n M, t nh Bến Tre; nghề nghi p: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Trần Văn Đ và à Đoàn Thị L; có vợ Nguyễn Thị Ánh H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị b t tạm giữ từ ngày 09-5-2023 - Có mặt.

Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Trương Hoài N là Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV QHN thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh; địa ch : Đường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 5-2023, Trần Xuân T đến khu vực quận T, Tp. Hồ Chí Minh gặp đối tượng tên Th (chưa x c định nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 13.000.000 đồng để sử d ng. Sau đó, T mang gói ma tuý về nhà chị Nguyễn Thị H (người yêu của T) tại thôn X, xã Đ, huy n Đ, t nh Đ k Nông chia thành 04 phần bỏ vào 04 gói zipper cất giấu.

Khoảng 11 giờ ngày 09-5-2023, T lấy 04 gói ma tuý bỏ vào một ì thư và cất giấu trong túi quần bên phải, mượn xe mô tô biển kiểm soát 48E1-340.28 của anh Nguyễn Thế H (anh ruột của chị H) ch chị H lên thị trấn Đ k M, huy n Đ. Khi đến khu vực thôn Đ, xã Đ, huy n Đ thì T nói chị H xuống xe và tiếp t c điều khiển xe mô tô lên vị trí cách chỗ chị H đứng khoảng 10m, xuống xe lấy 04 gói ma tuý cất giấu bên lề đường và lấy miếng nhựa màu đen che lại thì bị Bộ đội Đồn Biên phòng Đ - Bộ Ch huy Bộ đội Biên phòng t nh Đ k Nông phát hi n và b t quả tang cùng tang vật. Đồn Biên phòng Đ kh i tố v án hình sự và chuyển cho Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an huy n Đ điều tra, xử l theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận gi m định số 158/KL-KTHS ngày 10-5-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ k Nông kết luận: chất r n dạng tinh thể màu tr ng đựng trong 04 gói zipper ch đỏ được niêm phong gửi gi m định là chất ma tuý, có khối lượng mẫu 25,3030gam, là Methamphetamine, hoàn lại sau gi m định có khối lượng mẫu 25,0686 gam.

Bản n sơ th m số 49/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa n nh n n huy n Đ k Mil đã quyết định: Tuyên ố Trần Xu n T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Xu n T 08 năm tù. Ngoài ra, ản n sơ th m còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền h ng cáo.

Ngày 11-9-2023, Trần Xuân T h ng c o xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc th m, Trần Xuân T thừa nhận Tòa án nhân dân huy n Đ k Mil xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đ ng, hông oan và giữ nguyên kháng cáo. Ngoài ra, Trần Xuân T nộp bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mới gia đình có hoàn cảnh hó hăn được xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư tr và ị c o là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ

Đại i n Vi n iểm s t nh n n t nh Đ Nông phát biểu quan điểm: Hội đồng xét xử sơ th m xử phạt bị cáo Trần Xu n T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đ ng ph p luật; tại phiên tòa phúc th m, bị cáo cung cấp tình tiết mới. Tuy nhiên, mức hình phạt của Tòa án cấp sơ th m áp d ng là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc th m căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình sự, sửa bản n sơ th m về phần áp d ng pháp luật, giữ nguyên phần hình phạt.

Luật sư Nguyễn Trương Hoài N phát biểu quan điểm: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình ị cáo rất hó hăn, ị c o đã ly hôn vợ và phải chăm sóc mẹ già, con nhỏ, đề nghị HĐXX ph c th m giảm nhẹ hình phạt để bị cáo mau chóng quay về chăm sóc gia đình.

Trần Xuân T không có ý kiến bào chữa, tranh luận, ch đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v n, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v n đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bản n sơ th m số 49/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa n nh n n huy n Đ k Mil đã kết án Trần Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g hoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đ ng ph p luật.

[2]. X t h ng c o của Trần Xuân T, Hội đồng x t xử phúc th m x t thấy: Tòa án cấp sơ th m đã xem x t đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự và xử phạt bị cáo 08 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị c o đã g y ra. Tại giai đoạn xét xử phúc th m, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mới gia đình có hoàn cảnh hó hăn được xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư tr và ị cáo là lao động chính trong gia đình, sau khi ly hôn vợ đang nuôi con nhỏ và mẹ già. Do đó, Hội đồng xét xử phúc th m có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[3]. X t quan điểm đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc th m có căn cứ chấp nhận.

[4]. Xét quan điểm đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân t nh Đ k Nông tại phiên tòa là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc th m không có căn cứ chấp nhận.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của Trần Xuân T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu n phí hình sự ph c th m.

[6]. Đối với các quyết định khác của bản n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hi u lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 3 7 của Bộ luật Tố t ng hình sự: Chấp nhận h ng c o của ị cáo Trần Xuân T, sửa Bản n hình sự sơ th m số 49/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa n nh n n huy n Đ k Mil về điều luật áp d ng và hình phạt.

Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Xuân T 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tính từ ngày bị b t tạm giữ ngày 09-5-2023.

2. Các quyết định khác của bản n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc th m có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ