- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHAN THỊ CẨM LINH - BA TZ CHEN"
- Tòa quyết gì? Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HNGĐ - ST Ngày 13 - 10 - 2023 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Hồng Luyến
Ông Lê Xuân Tý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 75/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 63/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 14 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm L, sinh năm 1996; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Ông Ba Tz C, sinh năm 1969; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, đường S, khóm D, phường S, thành phố B, huyện B, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm L trình bày: Bà Phạm Thị Cẩm L qua mai mối đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn với ông Ba Tz C có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 394, ngày 07/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh H. Sau khi kết hôn bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C về Đài Loan chung sống. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà và chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng phong tục tập quán, bất đồng ngôn ngữ. Đến tháng 11/2016 bà Phạm Thị Cẩm L trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Vợ chồng ly thân đã lâu, cả hai không còn liên lạc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ba T Chen theo quy định pháp luật Việt Nam.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Ba Tz C từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp Lãnh thổ Đài Loan, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng ông Ba Tz C vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến phản hồi đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bà Phạm Thị Cẩm L được ly hôn với Ông Ba T Chen theo quy định của pháp luật; Về con chung, tài sản chung và nợ chung do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng
Nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm L, đăng ký thường trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang khởi kiện xin ly hôn với bị đơn ông Ba Tz C là người nước ngoài, quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) và đang cư trú tại Lãnh thổ Đài Loan. Quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Ba Tz C đã được Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 08 tháng 6 năm 2023, nhưng đến nay bị đơn vẫn không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Ba Tz C.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm L theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân
Bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại cơ quan thẩm quyền. Quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Thời gian bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C ly thân từ năm 2016 đến nay. Cả hai vợ chồng không còn liên lạc, không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Phạm Thị Cẩm L và ông Ba Tz C đã không có cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị Cẩm L được ly hôn với ông Ba Tz C.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Cẩm L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Phạm Thị Cẩm L phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 470; Điều 474; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27; Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 122 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Cẩm L được ly hôn với Ông Ba Tz C.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí bà Phạm Thị Cẩm L đã nộp theo biên lai thu số 0000266 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí phải chịu.
4. Lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Phạm Thị Cẩm L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp bà Phạm Thị Cẩm L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000291 ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.
5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Chi cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |