- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thạch Văn K được ly hôn với chị Nguyễn Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22 – 5 – 2023 “ V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thu Hà.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2023/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXX - ST ngày 04 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thạch Văn K, sinh năm: 1980 (Vắng có đơn xin vắng mặt ngày 18/5/2023).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm: 1982 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: ấp Trường Hội, xã Trung Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Thạch Văn K trình bày:
- Về mối quan hệ hôn nhân: Anh và chị X hôn nhân hình thành là do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới năm 2003 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ngày 31/5/2004. Sau ngày cưới anh và chị X thuê nhà sống ở Vũng Tàu đi làm thuê, đến năm 2007 thì về quê anh sinh sống. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cự cải dẫn đến tình cảm phai nhạt. Anh và chị X đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với chị X.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Thạch Quốc N, sinh ngày 03/01/2004 hiện cháu N đã thành niên phát triển bình thường nên anh không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị X vắng mặt tại phiên Tòa, không có lý do không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét thấy, nguyên đơn anh K có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Xét việc bị đơn chị X được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa anh K chị X có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh K chị X có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai người đã ly thân từ năm 2018 đến nay thời gian đã khá lâu làm phai nhạt tình cảm, từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã triệu tập chị X nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng chị X cố tình tránh né không đến Tòa án.
Từ đó, cho thấy chị X không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa anh K chị X đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên anh K yêu cầu xin ly hôn với chị X là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh K xác định anh và chị X có 01 người con chung tên Thạch Quốc Nam, sinh ngày 03/01/2004 hiện cháu Nam đã thành niên phát triển bình thường nên anh không yêu cầu giải quyết. Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh K không yêu cầu giải quyết. Bị đơn chị X vắng mặt không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh K không yêu cầu giải quyết. Bị đơn chị X vắng mặt không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Anh K phải nộp số tiền án phí là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Chị X không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thạch Văn K được ly hôn với chị Nguyễn Thị X.
2. Về con chung: Không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Anh Thạch Văn K không yêu cầu giải quyết. Bị đơn chị Nguyễn Thị X vắng mặt không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí:
+ Anh Thạch Văn K phải nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số N0 0009128, ngày 14/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, nên anh Thạch Văn K đã nộp đủ không phải nộp thêm.
+ Chị Nguyễn Thị X không phải nộp án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND huyện V; -Chi cục THADS huyện V;
- Các đương sự;
- UBND xã;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Quốc Cường
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Vũng Liêm; -Chi cục THADS huyện Vũng Liêm; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ. H CHAÙN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Cường |