vanban.org

Bản án 83/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đăng B được ly hôn chị Đinh Thị Phương H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 83/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 21/9/2023
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Đinh Hồng Sâm

Ông: Trương Ngọc Nhân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST - HNGĐ ngày 12/6/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng B, sinh năm 1988

Nơi ĐKNKTT: Số nhà 57, đường Qu Tr, tổ dân phố 2, khu phố 1, phường 10, quận G V, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Số nhà 129/5, đường Qu Tr, tổ dân phố 2, khu phố 1, phường 10, quận G V, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Đinh Thị Phương H, sinh năm 1989

Nơi ĐKNKTT: Thôn T Ph, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/6/2023 của nguyên đơn Nguyễn Đăng B trình bày giữa anh và chị Đinh Thị Phương H đã đăng ký kết hôn ngày 02/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn vợ chồng sống ly thân với nhau. Vì vậy anh làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với chị H.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh, sinh ngày 10/12/2019. Sau khi ly hôn do con đang ở với chị H nên anh B có nguyện vọng giao con lại cho chị H nuôi dưỡng và anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 800.000 đồng.

Tài sản chung: Không có.

Khoản vay chung: Không có

Ngày 30/8/2023, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với anh B và chị H. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia giải quyết vụ án đưa ra quan điểm xét xử như sau: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ. Về quan điểm xét xử đối với vụ án: Áp dụng Điều 147, 227, 228, 238 khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, tuyên xử anh Nguyễn Đăng B được ly hôn với chị Đinh Thị Phương H.

Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Phương H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh, sinh ngày 10/12/2019, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, các khoản vay chung: không có nên không xem xét

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H và anh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập chị H nhiều lần nhưng chị H không đến Toà án để giải quyết vụ án. Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được chị H có hộ khẩu thường trú tại xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình, hiện tại chị H đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng chị H vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu của anh B.

Ngày 26/7/2023 anh B có đơn xin giải quyết vắng mặt vì lý do điều kiện đi lại do làm ăn xa nên không tham gia phiên tòa và yêu cầu hội đồng xét xử giải quyết các nội dung theo đơn xin xét xử vắng mặt của anh. Xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của anh B là hợp lệ và tự nguyên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xét xử vắng mặt của anh B.

Căn cứ Điều 227, Điều 238 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng B và chị Đinh Thị Phương H đã đăng ký kết hôn ngày 02/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy nguyện vọng của anh B xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Đăng B được ly hôn chị Đinh Thị Phương H.

Về con chung: Hiện cháu Kh đang ở với chị H và anh B cũng nhất trí giao con cho chị H nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cho chị Đinh Thị Phương H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh, sinh ngày 10/12/2019, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét

Khoản vay chung: Không có nên không xem xét

Án phí: Anh Nguyễn Đăng B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh B đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000789 ngày 30/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh B còn tiếp tục nộp 300.000 đồng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đăng B được ly hôn chị Đinh Thị Phương H.

2. Về con chung: Xử giao cho chị Đinh Thị Phương H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh, sinh ngày 10/12/2019, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Đinh Đăng Kh tròn 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 10/2023.

Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh B đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000789 ngày 30/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh B còn tiếp tục nộp 300.000 đồng án phí.

4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ