- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị N và anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N, cho ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Phan Thanh H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980; Nơi cư trú: Ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Phan Thanh H1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974; Nơi cư trú: Ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 6 năm 2023, bản khai đề ngày 18 tháng 7 năm 2023, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày: Năm 1999, chị quen biết với anh Phan Thanh H1, sau thời gan tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, hai anh chị về sống chung nhà với gia đình của anh H1, hai vợ chồng không có tổ chức lễ cưới. Hai vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm, thường xuyên cải vã, anh H1 còn đánh vợ. Mặc dù, vẫn còn sống chung nhà nhưng mạnh ai làm nấy sống, không còn quan tâm, chăm lo đến nhau. Chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phan Thanh H1. Về con chung: Hai vợ chồng sống chung với nhau có 01 con chung là Phan Thị Thanh H2, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2000. hiện cháu Thanh H2 đã trưởng thành, có thể tự lao động nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phan Thanh H1 đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Phan Thanh H1; Về nuôi con chung: Phan Thị Thanh H2, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2000 đã trưởng thành, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N trình bày tự thỏa thuận, còn anh Phan Thanh H1 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; Về nợ chung: Chị Bùi Thị N trình bày không có, còn anh Phan Thanh H1 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nguyên đơn chị Bùi Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Thanh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thanh Tuyền và anh Phan Thanh H1 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị N đối với anh Phan Thanh H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Bùi Thị N thì cuộc sống của chị và anh Phan Thanh H1 không hạnh phúc từ đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm, thường xuyên cải vã, anh H1 còn đánh vợ. Mặc dù, vẫn còn sống chung nhà nhưng mạnh ai làm nấy sống, không còn quan tâm, chăm lo đến nhau. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị N với anh H1 hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị N ly hôn với anh H1.
Về việc nuôi con: Đối với con chung là Phan Thị Thanh H2, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2000, đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N cho rằng vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phan Thanh H1 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về nợ chung: Chị Bùi Thị N cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phan Thanh H1 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N, cho ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Phan Thanh H1.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Bùi Thị N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004452 ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND X.TTHA, H.HN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |