vanban.org

Bản án 83/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hồng D.

Buộc ông Hà Ngọc N có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Hồng D số tiền 342.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi hai triệu đồng). Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hồng D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/DS-ST
Ngày: 22-9-2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình và ông Lưu Trọng Kim.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 127/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2023/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Hồng D, sinh năm 1989;

Nơi cư trú: Số 69 Trường Chinh, khu phố Hiệp Thạnh, phường Hn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Hà Ngọc N, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: Đường Phù Đổng Thiên Vương, khu phố 3, thị trấn Vx, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Anh Phan Văn C, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số nhà 4, đường số 4A, xóm 4, thôn 1, xã Br, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, co mặt người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Xuất phát từ mối quan hệ quen biết nhau, ông Đặng Hồng D có cho ông Hà Ngọc N vay tiền 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào ngày 13/02/2023, ông Hà Ngọc N có vay của ông D số tiền 242.000.000 đồng, thời hạn vay 02 tháng, không thỏa thuận lãi suất.

Lần thứ hai: Vào ngày 29/4/2023, ông Hà Ngọc N tiếp tục vay của ông D số tiền 100.000.000 đồng, cũng không thỏa thuận lãi suất. Ông N hẹn đến ngày 5/5/2023 sẽ trả đủ số tiền 342.000.000 đồng cho ông D nhưng ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông D, mặc dù ông D đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông N trả tiền nhưng ông N cố tình trốn tránh và không chịu trả nợ cho ông D.

Cả hai lần vay tiền thì đều lập giấy và ông N có ký vào giấy vay tiền. Khi vay tiền của ông D thì ông N không nói mục đích vay để làm gì.

Ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu ông Hà Ngọc N phải trả số tiền nợ vay gốc là 342.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng trình bày:

Vào ngày 13/2/2023 và ngày 29/4/2023, ông C có chứng kiến việc ông Hà Ngọc N vay tiền của ông Đặng Hồng D tổng số tiền 342.000.000 đồng. Tôi có ký làm cứng trong giấy vay tiền do ông D cung cấp cho Tòa án.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Hà Ngọc N phải trả số tiền nợ vay gốc là 342.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn vắng mặt.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 71; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Hà Ngọc N trả cho ông Đặng Hồng D số tiền 342.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc ông N phải chịu án phí theo quy định.

(Có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn; bị đơn có nơi cư trú tại khu phố 3, thị trấn Vx, huyện D Linh, tỉnh Bình Thuận

Căn cứ các Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D Linh, tỉnh Bình Thuận.

Về tố tụng: Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện D Linh xét xử vắng mặt bị đơn.

Về chứng cứ: Tại phiên tòa, đương sự có mặt khác không nộp tài liệu, chứng cứ mới để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Tòa án đã thu thập được theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do các đương sự cung cấp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về tính pháp lý của giao dịch dân sự:

Căn cứ vào 02 giấy mượn tiền đề ngày 13/02/2023 và 29/4/2023 do nguyên đơn cung cấp thì có cơ sở xác định giao dịch dân sự giữa ông D và ông N là giao dịch dân sự về việc vay tài sản, lập thành văn bản, có thỏa thuận thời hạn vay, không thỏa thuận lãi suất vay và các thỏa thuận khác. Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo D xã hội; do đó 02 giấy mượn tiền đề ngày 13/02/2023 và 29/4/2023 đảm bảo các quy định tại Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự, nên được pháp luật dân sự bảo vệ.

Căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn là đảm bảo điều kiện khởi kiện và trong thời hiệu khởi kiện.

Về xác định nghĩa vụ trả nợ vay:

Tại Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khẳng định cho bị đơn vay tiền 02 lần với tổng số tiền là 342.000.000 đồng; bị đơn đã được thông báo hợp lệ về thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Điều này chứng tỏ bị đơn đã biết việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay nhưng bị đơn đã không hợp tác với Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn khẳng định chỉ cho cá nhân ông bị đơn vay tiền, không liên quan đến vợ của bị đơn. Người làm chứng khẳng định có chứng kiến sự việc bị đơn vay tiền và nhận tiền từ nguyên đơn.

Do đó, nguyên đơn sử dụng 02 giấy mượn tiền đề ngày 13/02/2023 và 29/4/2023 để yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 342.000.000đồng là có căn cứ, phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lãi suất: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu tính lã, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSST; buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 92; Điều 93; Điều 95; Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 147; Điều 161, Điều 262; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hồng D.

Buộc ông Hà Ngọc N có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Hồng D số tiền 342.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/ Về án phí:

- Buộc ông Hà Ngọc N phải nộp số tiền 17.100.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

- Trả lại cho ông Đặng Hồng D số tiền 8.550.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo các biên lai thu tiền số: 0015137 ngày 06 tháng 6 năm 2023.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ