vanban.org

Bản án 83/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.

Buộc Bà Nguyễn Lê P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tổng số là 181.352.508 đồng, trong đó: nợ gốc: 106.346.399 đồng; lãi quá hạn: 75.006.109 đồng tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Nguyễn Lê P ký ngày 15 tháng 02 năm 2020. Kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/DS-ST
Ngày: 28-4-2022
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Phúc Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Quý

Ông Nguyễn Đình Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 872/2022/DSST ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1626/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2091/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ trụ sở: Số 4x đường N, Phường M, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Thanh C, sinh năm 1979; Địa chỉ liên hệ: Lầu A, Toà nhà B, số 4x đường C, Phường D, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 19xx/UQ-xx ngày 15 tháng 9 năm 2022).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Lê P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số 4x đường T, phường G, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 8 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Ngô Thanh C là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần A cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Lê P theo các căn cứ:

- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Nguyễn Lê P ký ngày 15 tháng 02 năm 2020;

- Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A;

- Các văn bản khác của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A ký với bà Nguyễn Lê P, nội dung: Ngày cấp: Ngày 19 tháng 02 năm 2020; Loại thẻ: Visa signature (Thẻ tín dụng quốc tế); Hiệu lực thẻ: Tháng 2 năm 2023; Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng; Lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Nguyễn Lê P đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó ngày 20 tháng 4 năm 2021 Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đã chuyển khoản nợ thẻ của bà Nguyễn Lê P sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ của bà Nguyễn Lê P.

Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2023, bà Nguyễn Lê P còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền là 181.352.508 đồng, trong đó: vốn gốc: 106.346.399 đồng; lãi quá hạn: 75.006.109 đồng.

Yêu cầu của nguyên đơn:

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần A yêu cầu bà Nguyễn Lê P thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc lãi tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2023, bà Nguyễn Lê P còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền là 181.352.508 đồng, trong đó: vốn gốc: 106.346.399 đồng; lãi quá hạn: 75.006.109 đồng. Thứ tự trả nợ như sau: vốn gốc, lãi quá hạn;

- Bà Nguyễn Lê P còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tính dụng, tính từ ngày 29 tháng 4 năm 2023 đến ngày trả dứt nợ.

Bị đơn là bà Nguyễn Lê P không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải cho Nguyễn Lê P, nhưng bà Nguyễn Lê P vẫn không có mặt do đó vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không có mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại số 3X đường K, phường T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Nguyễn Lê P ký ngày 15 tháng 02 năm 2020 thể hiện bà Nguyễn Lê P có hộ khẩu thường trú tại Số 4x đường T, phường G, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của công an phường T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Công an phường G, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết bà Nguyễn Lê P có đăng ký thường trú tại địa chỉ Số 4x đường T, phường G, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nhà đã bán và không rõ bà P đang thực tế cư trú tại đâu.

Xét, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ số 3X đường K, phường T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định:

Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Nguyễn Lê P ký ngày 15 tháng 02 năm 2020, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần A ký với bà Nguyễn Lê P, nội dung: Ngày cấp: Ngày 19 tháng 02 năm 2020; Loại thẻ: Visa signature (Thẻ tín dụng quốc tế); Hiệu lực thẻ: Tháng 2 năm 2023; Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng; Lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng.

Quá trình sử dụng thẻ bị đơn đã sử dụng thẻ với tổng số tiền 98.000.000 đồng, gồm giao dịch bằng thẻ 98.000.000 đồng. Do trong quá trình sử dụng thẻ bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nên toàn bộ dư nợ hiện có của hợp đồng này dù chưa đến hạn cũng được chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của hai bên tại Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn cũng như quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các khoản 1 và 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (có hiệu lực thi hành tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng tín dụng), yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn của hợp đồng vay, tổng cộng số tiền tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2023 là 181.352.508 đồng, trong đó: nợ gốc: 106.346.399 đồng; lãi quá hạn: 75.006.109 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc tính từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến ngày trả hết nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu 9.067.625 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.

Buộc Bà Nguyễn Lê P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tổng số là 181.352.508 đồng, trong đó: nợ gốc: 106.346.399 đồng; lãi quá hạn: 75.006.109 đồng tính đến ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Nguyễn Lê P ký ngày 15 tháng 02 năm 2020.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Lê P còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 15 tháng 02 năm 2020.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Lê P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.067.625 đồng.

Hoàn lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 3.840.297 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/00xxxxx ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ