vanban.org

Bản án 83/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 06/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Hoàng Ngọc B - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HSST
Ngày: 12/4/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đăng Rin.

Bà Trần Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Đức Chính – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 106/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ Hoàng Thị Ngọc B; Tên gọi khác: Ngọc, sinh ngày

27/4/1984, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: 177 B, phường P, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đắc B (Không rõ tung tích) và bà Hoàng Thị Kim Q (đã chết); anh em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; chồng: Nguyễn Toàn T (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2005; tiền án: 01 tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học hết lớp 7/12 thì nghỉ học ở nhà buôn bán cho đến nay. Ngày 22/8/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 5.000.000đồng (năm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 198/2013/HSST), đã thi hành án vào ngày 05/10/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/12/2021 cho đến nay - Có mặt.

Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị Lan C, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ 8, khu vực 4, phường T, thành phố H, tỉnh T - vắng mặt.

+ Ông Lê C, sinh năm 1957. Nơi cư trú: 242/3 B, phường P, thành phố H, tỉnh T

- vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Tổ 23, khu vực 6, phường T, thành phố H, tỉnh T - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 21/7/2021, Hồ Hoàng Thị Ngọc B đi đến nhà của

chị Lê Thị Ngọc T (sinh năm 1977) ở số 192 đường Bùi Thị Xuân, phường Phường Đúc, thành phố Huế thì gặp Nguyễn Thị Lan C, Lê C và Nguyễn Văn T. Tại đây, B, C, C và T cùng rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm. Nguyễn Văn T là người chuẩn bị hai bộ bài tú lơ khơ.

Cách thức đánh bạc như sau: Các đối tượng sử dụng một bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm. Mỗi ván bài gồm 4 người chơi. Mỗi ván chia cho mỗi người chơi 09 lá bài, riêng người chia bài (người chia bài ván đầu tiên hoặc người thắng ván bài trước) được chia thêm 01 lá bài và đánh trước. Cách đánh bài nhằm tạo thành từng phỏm, một phỏm được tính gồm 03 lá bài trở lên cùng loại hoặc 03 lá bài trở lên có chất (cơ, rô, chuồn, bích) liên tiếp nhau. Khi kết thúc ván bài người chơi sẽ hạ các phỏm mình có, những lá bài còn lại được tính điểm. Người chơi có ít điểm nhất sẽ thắng ba người chơi còn lại theo thứ tự nhì, ba, tư tương ứng với số tiền thắng là 10.000 đồng, 20.000 đồng và 30.000 đồng. Nếu người chơi “cháy” (không có phỏm nào) sẽ thua người về nhất 40.000 đồng. Nếu có người chơi “ù” (có ba phỏm) thì sẽ thắng ba người chơi còn lại mỗi người 50.000 đồng. Quá trình đánh bạc không thu tiền xâu. Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày 21/7/2021, khi các đối tượng trên đang có hành vi đánh bạc thì bị lực lượng công an phường Phường Đúc, thành phố Huế kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc.

Tại thời điểm kiểm tra xác định Hồ Hoàng Thị Ngọc B dùng số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Lê C dùng số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để đánh bạc. Nguyễn Thị Lan C dùng số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Nguyễn Văn T dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền Hồ Hoàng Thị Ngọc B, Nguyễn Thị Lan C, Lê C và Nguyễn Văn T dùng đánh bạc là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Qua điều tra xác định vào ngày 22/8/2013 Hồ Hoàng Thị Ngọc B bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” (bản án số 198/2013/HSST ngày 22/8/2013). Vào ngày 31/8/2021, tại văn bản số 1778/CCTHADS của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế xác định Hồ Hoàng Thị Ngọc B chưa thi hành phần hình phạt tiền 5.000.000 đồng và nộp án phí đối với bản án trên. Do đó, Công an phường Phường Đúc, thành phố Huế đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc và vật chứng kèm theo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

* Vật chứng thu giữ:

- Số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là: 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

- Số tiền thu giữ trong người của Hồ Hoàng Thị Ngọc B và các đối tượng nêu trên, kết quả điều tra xác định không dùng vào việc đánh bạc gồm: thu giữ của Hồ Hoàng Thị Ngọc B số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng); thu giữ của Nguyễn Thị Lan C số tiền 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng); thu giữ của Lê C số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng); thu giữ của Nguyễn Văn T số tiền 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

- 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ bằng giấy, mỗi bộ 52 (năm mươi hai) lá bài.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ trong người của Hồ Hoàng Thị Ngọc B, 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng) thu từ Nguyễn Thị Lan C, 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng) thu từ Lê C, 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) thu từ Nguyễn Văn T không dùng để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho B, Lan C, Lê C, T.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS-HS ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hồ Hoàng Thị Ngọc B về tội “Đánh bạc”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 36 của Bộ luật hình sự; xử phạt Hồ Hoàng Thị Ngọc B từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập. Hình phạt bổ sung từ 10.000.000đồng 15.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo và các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (một) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 lá bài.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo nói lời nói sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 09 giờ 40 ngày 21/7/2021, tại nhà số 192 Bùi Thị Xuân, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Hồ Hoàng Thị Ngọc B, Nguyễn Thị Lan C, Lê C và Nguyễn Văn T đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an phường Phường Đúc, thành phố Huế phát hiện, lập biên bản. Tổng số tiền Hồ Hoàng Thị Ngọc B, Nguyễn Thị Lan C, Lê C và Nguyễn Văn T dùng đánh bạc là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của Hồ Hoàng Thị Ngọc B đã bị kết án về tội“Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi đánh bạc. Do đó, hành vi của Hồ Hoàng Thị Ngọc B đã phạm vào tội“Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng số 80/CT-VKS-HS ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng tại địa phương, nên cần thiết phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Tại thời điểm phạm tội bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích, mặt dù lần này bị cáo đánh bạc tang số dưới 5.000.000đồng, nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc vào năm 2013 (do bị cáo chưa thi hành án nộp tiền phạt và nộp án phí hình sự sơ thẩm) nên chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, cần xem xét cho bị cáo là sau khi bị khởi tố bị cáo đã nộp tiền thi hành án, bản thân bị cáo là phụ nữ, có con nhỏ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo lao động tại cộng đồng để chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình trong môi trường xã hội bình thường. Nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 2 Điều 35, Điều 36 BLHS là phù hợp. Do bị cáo có thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo

Về xử lý vật chứng: Xác định được số tiền thu từ việc đánh bạc là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ là công cụ phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ trong người của Hồ Hoàng Thị Ngọc B, 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng) thu từ Nguyễn Thị Lan C, 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng) thu từ Lê C, 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) thu từ Nguyễn Văn T không dùng để đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho B, Lan C, C, T là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc)

01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) cho Ủy ban nhân dân phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo phải nộp 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng;

Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng);

Tịch thu tiêu hủy 02 (một) bộ bài tú lơ khơ.

Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày

22/3/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế và giấy nộp tiền ngày 22/3/2022 giữa người nộp tiền là Lê Minh H (Công an thành phố Huế) nộp tiền vật chứng vụ Hồ Hoàng Thị Ngọc B và đơn vị nhận là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

3.Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Hồ Hoàng Thị Ngọc B (tên gọi khác: Ngọc) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ